Trang nhất
  Xã Luận
  Đọc Báo Trong Nước
  Truyện Ngắn
  Kinh Tế
  Âm vang sử Việt
  Tin Thể Thao
  Y Học
  Tâm lý - Xã hội
  Công Nghệ
  Ẩm Thực

    Diễn Đàn Biển Đông
PTT Mỹ: Trung Quốc chớ hung hăng
    Hình Ảnh Quê Nhà - Video Clip
VIETNAM'S CULTURE
    Tin Thế Giới
EU có Quân đội riêng?
    Tin Việt Nam
Thủ tướng Pháp thăm chính thức Việt Nam với 3 mục tiêu then chốt
    Tin Cộng Đồng
Hai miền Triều Tiên tổ chức đoàn tụ cho những gia đình ly tán
    Tin Hoa Kỳ
Lời nguyền Assad ứng vào Israel?
    Văn Nghệ
Tư nhân đầu tư cải lương: "Đánh bạc" với đam mê
    Điện Ảnh
Giới phê bình chê bai gay gắt với 'Fantastic Beasts 2'
    Âm Nhạc
Mang nhạc hàn lâm đến với công chúng trẻ
    Văn Học
Nỗi buồn chiến tranh hay phía tây không có gì lạ

Thông Tin Tòa Soạn

Tổng biên tập:
Tiến Sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt
Phụ Tá Tổng Biên Tập
Tiến Sĩ
Nhật Khánh Thy Nguyễn
Tổng Thư ký:
Quách Y Lành




   Âm vang sử Việt
Để chữ quốc ngữ có thanh điệu, cần ghi công một cậu bé
Cha Đắc Lộ nói rằng nhờ một cậu bé 13 tuổi (sau này được đặt tên Thánh là Rafael Rhodes) mà ông mới hiểu được hệ thống thanh điệu, lên xuống giọng của người Việt và đó là cơ sở quan trọng để đặt ra các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng.

 

Trong phần trước, chúng tôi đã đề cập đến bước sơ khởi trong tiến trình phát triển chữ quốc ngữ. Ở giai đoạn 1620-1626, các giáo sĩ mà đi đầu là cha Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha đã bắt đầu thực hiện ghi âm tiếng Việt bằng ký tự La Tinh. Việc ghi của thời này khá đơn giản khi các từ ghép vẫn được viết nối nhau và không hề có vần.

 

Phải đến sau 1626 thì bắt đầu có việc ghi cách ngữ và gắng chép có dấu để phân biệt độ lên hạ giọng trong phát âm của người Việt. Việc học cách để ghi cách ngữ chỉ cần có thời gian và chỉnh thói quen là làm được. Nhưng riêng việc phân biệt dấu qua cách lên xuống giọng của người Việt là cực hình đối với người phương Tây, đó còn chưa kể đến việc một tiếng còn có nhiều nghĩa khác nhau.

Để người ngoại quốc thấy rõ hơn sự nguy hiểm trong khi phát thanh sai tiếng Việt, cha Đắc Lộ thuật lại hai câu chuyện sau đây: Một hôm Linh mục bạn với Đắc Lộ muốn bảo người giúp việc đi chợ mua cá. Khi người giúp việc ở chợ về, bảo cho ông hay là đã mua như ý Linh mục muốn. Ông liền xuống nhà bếp coi xem loại cá nào, thì ông ngỡ ngàng vì người đi chợ lại mua một thúng đầy cà. Linh mục biết ngay là vì đã đọc trại tiếng cá thành cà, nên ông xin lỗi người giúp việc. Một Linh mục khác bảo người nhà đi chém tre. Đoàn trẻ em trong nhà Linh mục nghe thế sợ quá, bỏ chạy tán loạn. Thì ra ông phát thanh lầm là chém trẻ, nên làm cho đàn trẻ em khiếp sợ. Phải giải thích mãi trẻ em mới yên tâm và trở về nhà với Linh mục.

Do vậy, để có thể truyền tải hết tiếng Việt vào chữ viết thì phải có cách chép dấu. Cuốn công trình Tự điển Việt-Bồ-La của cha Đắc Lộ ra đời năm 1651 đã giải quyết được vấn đề đó. Cha Đắc Lộ nói rằng nhờ một cậu bé 13 tuổi (sau này được đặt tên Thánh là Rafael Rhodes) mà ông mới hiểu được hệ thống thanh điệu, lên xuống giọng của người Việt (cơ sở quan trọng để đặt ra các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng). Cha Đắc Lộ viết: “Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc, học viết tiếng La Tinh và đã có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thầy giảng giúp việc các cha truyền giáo và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thầy và nơi Vương quốc Lào láng giềng”.

Thực ra, cha Đắc Lộ không thể một mình tự nghiên cứu mà ra cuốn Tự điển Việt-Bồ-La mà cần dựa vào nghiên cứu, đúc kết của nhiều giáo sĩ khác. Thời gian cha Đắc Lộ ở Việt Nam không liên tục mà bị ngắt quãng do chính sách của triều đình 2 đàng khi đó. Trước khi bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, cha Đắc Lộ chỉ có 57 tháng ở với người Việt (ở Đàng Trong từ tháng 12.1624 đến tháng 7.1626 và ở Đàng Ngoài từ tháng 3.1627 đến 5.1630).  Sau đó, ông phải ở Áo Môn (tức Macau) trong 10 năm rồi mới quay trở lại Đàng Trong năm 1640 nhưng cũng không ở liên tục mà chia làm 3 lần (lần 1: tháng 2.1640 đến 9.1640, rồi về Áo Môn, lần 2: tháng 12.1640 đến 7.1641, sau đó về Áo Môn, lần 3: tháng 1.1642 đến 7.1643, lại về Áo Môn).

Chính vì sự ngắt quãng đó cộng với công việc khá nhiều nên cha Đắc Lộ khó có thời gian chuyên tâm nghiên cứu việc phiên âm tiếng Việt. Dựa vào các văn bản có lưu dấu chữ quốc ngữ của cha Đắc Lộ viết trong thời gian đi lại giữa Việt Nam và Áo Môn, các nhà nghiên cứu nhận thấy trình viết của cha Đắc Lộ khi ấy khó sánh bằng cha Gaspar do Amaral. Cha Amaral đến Thăng Long cuối năm 1629 và trong bản tường trình gửi về Bồ Đào Nha ngày 31.12.1632, cha Amaral đã viết rất nhiều chữ quốc ngữ cách ngữ và có dấu như Kẻ Chợ (chỉ Thăng Long), yêu nhău (yêu nhau), hụyen (huyện), bà đạu (bà đạo),  đàng ngoằy (đàng ngoài), nhũộn (nhuận)... Có thể thấy nhiều từ quốc ngữ được cha Amaral viết khi đó khá xa với từ hiện giờ nhưng so với cách viết của cha Đắc Lộ khi ấy thì tốt hơn rất nhiều. Cùng thời điểm và có thể muộn hơn, bản viết tay của cha Đắc Lộ vẫn ghi Ce Che (Kẻ Chợ), dau nhu (đạo Nho), huyen gna (huyện nha)...

Đến năm 1637, thư của cha Amaral đã có nhiều chữ quốc ngữ khá sát với bây giờ hơn khi ông dùng chính xác nhiều từ như đức, thầy, Nghệ An, đàng ngoài... Trong khi đó, cách viết từ quốc ngữ của cha Đắc Lộ cũng không tiến triển nhiều hơn, rất ít dùng chữ có dấu. Phải đến 1644, cách viết chữ quốc ngữ của cha Đắc Lộ mới có bước tiến rõ rệt khi trở lại Việt Nam. Thời kỳ đó, ông đã viết được cả câu quốc ngữ dài: “giũ nghĩ cũ đ Chúa Jesu cho đen het hoy, cho đen blon đoy” (giữ nghĩa cùng đức Chúa Jêsu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời).

Có thể thấy trong thời gian trước 1645 thì cha Amaral là người xuất sắc trong việc dùng chữ quốc ngữ và ông cũng là người soạn cuốn tự điển Việt-Bồ-La (Diccionário anamita-português-latim). Nói đến lịch sử chữ quốc ngữ trong giai đoạn này, không thể bỏ qua Linh mục Antonio Barbosa (1594-1647) người Bồ Đào Nha. Cuối tháng 4.1636, Barbosa đến Đàng Ngoài, nhưng rồi ông trở về Áo Môn vào tháng 5.1642, vì lý do sức khỏe. Cha Barbosa đã soạn thảo cuốn tự điển Bồ - Việt (Diccionario português-anamìta).

Chính 2 cuốn tự điển Việt - Bồ - La của cha Amaral và cuốn tự điển Bồ - Việt của cha Barbosa đã đặt nền móng để cha Đắc Lộ soạn cuốn tự điển Việt-Bồ-La ra đời 1651. Đó là bước ngoặt rất quan trọng để một thời gian ngắn sau đó, người Việt Nam bắt đầu dùng chữ La Tinh để ghi chép.

 

DanQuyen.com
    Phản Hồi Của Độc Giả Về Bài Viết
Họ và Tên
Địa chỉ
Email
Tiêu đề
Nội dung
Gửi cho bạn bè Phản hồi

Các bài viết mới:
    Rốt cục vua Bảo Đại là con ai? (15/11/2018)
    ‘Nước cờ Tam Điệp’ trong cuộc chiến chống quân Thanh 1789 (14/11/2018)
    Điều cần biết về danh xưng của các vị vua Việt Nam (13/11/2018)
    Phượng Hoàng Trung đô và khát vọng dở dang của vua Quang Trung (12/11/2018)
    Cuộc sống lưu đày của vua Hàm Nghi qua lời kể của nữ nhà văn Nga (11/11/2018)
    Kinh nghiệm sử dụng người tài, xây dựng đội ngũ quan lại thời Lê Thánh Tông (10/11/2018)
    Cụ Phan Bội Châu nói gì về vấn đề mê tín dị đoan? (05/11/2018)
    Vụ án phạm thượng chấn động dưới triều vua Minh Mạng (04/11/2018)
    Võ sư nổi danh nước Việt có hai học trò là hoàng đế (03/11/2018)
    Bài viết 100 năm trước: Chữ Nho, nên để hay là nên bỏ? (31/10/2018)
    Khúc tráng ca của Hải đội Hoàng Sa (30/10/2018)
    Chiến lược của Trần hưng Đạo khi đối phó với kẻ thù hùng mạnh hơn (29/10/2018)
    Một góc nhìn khác về thời đại Hai bà Trưng (28/10/2018)
    Vị trí và vai trò của các chúa Trịnh trong lịch sử, văn hóa dân tộc (26/10/2018)
    Ẩn số về chuyện lên ngôi của vua Lê Đại Hành (25/10/2018)
    Một giả thuyết phong thủy về kinh thành Huế của nhà Nguyễn  (24/10/2018)
    Vì sao nói vua Lê Tương Dực là phiên bản lỗi của vua Lê Thánh Tông? (23/10/2018)
    Những cuộc hôn nhân cùng huyết thống trong hoàng tộc nhà Nguyễn (22/10/2018)
    Về những ngôi mộ đất sơ sài của các vị vua nhà Lý (21/10/2018)
    Một góc nhìn khác về thủy tổ của người Việt (19/10/2018)

Các bài viết cũ:
    Chữ quốc ngữ buổi đầu: Người Nhật chê, người Việt nhận (27/11/2017)
    Đem tù binh tới chân thành, tướng Minh khiếp vía cầu hòa (24/11/2017)
    Từ xây Vạn lý trường thành đến gây sự với người Việt (22/11/2017)
    Người Việt trước đêm đánh bại cuộc xâm lược của Tần Thủy Hoàng (18/11/2017)
    Cuộc nội chiến đầu tiên của người Việt và cái kết đắng  (16/11/2017)
    Hồ Quý Ly và mưu kế dùng độc trị độc với nhà Minh (14/11/2017)
    Trước Hai Bà Trưng, người Việt đã vài lần cầm vũ khí bảo vệ độc lập (11/11/2017)
    Hộ tịch, hộ khẩu là sản phẩm từ thời Bắc thuộc (08/11/2017)
    Hồ Quý Ly và 2 lần diễn kịch hòng che mắt nhà Minh (05/11/2017)
    Đến lượt nhà Minh đòi lính đánh thuê, nhà Trần từ chối (02/11/2017)
    Trung Nguyên chiến loạn khốc liệt, nhà Trần cử người sang xem (30/10/2017)
    Về chuyện 'Hậu duệ vua Trần' xưng làm hoàng đế Đại Hán (28/10/2017)
    Dùng áp lực quân sự ép nhà Nguyên trong cơn nguy loạn (24/10/2017)
    Nhà Trần mang 3 vạn quân đánh sang đất Nguyên (20/10/2017)
    Trò hề của sứ Nguyên sau khi thua trận (16/10/2017)
    Căng thẳng đấu tranh trong lễ nghi triều kiến giữa nhà Trần và Nguyên Mông (13/10/2017)
    Nhà Trần kiên quyết không làm lính đánh thuê cho Nguyên Mông (07/10/2017)
    Ba đời vua Trần và 12 lần cự tuyệt nhà Nguyên (04/10/2017)
    Tượng binh Đại Việt phá tan kỵ binh Vân Nam (01/10/2017)
    Đại Việt - Nguyên Mông thông hiếu, nhà Tống sợ hãi cầu thân (25/09/2017)
 
"Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam".

Chuyển Tiếng Việt


    Truyện Ngắn
Người về hay đi - Truyện ngắn của Ái Duy


   Sự Kiện

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn





 

Copyright © 2010 DanQuyen.com - Cơ Quan Ngôn Luận Người Việt Hải Ngoại
Địa Chỉ Liên Lạc Thư Tín:
E-mail: danquyennews@aol.com
Lượt Truy Cập : 125450032.