Trang nhất
  Xã Luận
  Đọc Báo Trong Nước
  Truyện Ngắn
  Kinh Tế
  Âm vang sử Việt
  Tin Thể Thao
  Y Học
  Tâm lý - Xã hội
  Công Nghệ
  Ẩm Thực

    Diễn Đàn Biển Đông
Ngoại trưởng Philippines: 'Bắt tay với Mỹ nhưng chả biết Mỹ bảo vệ đến mức nào'
    Hình Ảnh Quê Nhà - Video Clip
2 ngày khám phá những điểm du lịch được yêu thích ở đảo Phú Quốc
    Tin Thế Giới
Tin giả khiến biểu tình tại Hong Kong thêm trầm trọng
    Tin Việt Nam
Bộ Ngoại giao hoàn toàn bác bỏ nhận định Việt Nam không có tự do Internet
    Tin Cộng Đồng
Xông vào trường mẫu giáo, xịt hóa chất làm 51 trẻ Trung Quốc bị thương
    Tin Hoa Kỳ
Ông Trump viết tweet nhiều nên Bắc Kinh dễ bắt bài?
    Văn Nghệ
Góc bếp một cụ bà lộ ra bức tranh thời trung cổ giá 24 triệu euro
    Điện Ảnh
'Joker' cán mốc 900 triệu USD
    Âm Nhạc
Justin Bieber rủ Miley Cyrus hẹn hò đôi
    Văn Học
Xuất bản hồi ký 'Đoàn binh Tây Tiến'

Thông Tin Tòa Soạn

Tổng biên tập:
Tiến Sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt
Phụ Tá Tổng Biên Tập
Tiến Sĩ
Nhật Khánh Thy Nguyễn
Tổng Thư ký:
Quách Y Lành




   Văn Học
Hoàng Cầm,“buồn teo một tiếng gà!”
Tình thơ Hoàng Cầm là tình quê, cảnh thơ Hoàng Cầm là cảnh quê nên không lạ gì khi ta nghe trong thơ Hoàng Cầm có tiếng gà gáy.

Về người, nữ ca sĩ thường có tiếng hát trong trẻo hơn nam. Rõ hơn là tiếng vịt. Tiếng khàn khàn, không ra hơi chính là tiếng vịt đực. Ngược lại, tiếng con gà mái cục tác rất thiếu nghệ thuật, còn tiếng gà trống gáy là một khúc nhạc trầm bổng hay ho.
 
 
            Gà trống thường gáy vào một thời điểm nào đó trong 24 giờ của một ngày. Gà gáy đầu trong đêm khuya thường làm cho người ta buồn, nhứt là người sắp tới lúc chia ly hay cô quạnh ở xứ người. Điều nầy rất rõ trong thơ Hoàng Cầm. Trong cảnh đêm trường im lặng, bỗng có tiếng gà gáy sang canh vang lên, làm cho nhà thơ thấy buồn. Trong bài thơ “Một Mình”. Hoàng Cầm bày tỏ tâm sự:
 
Dường như cánh gió không bay
Lời ca không hát, rượu đầy không men
Dường như nhớ lại không quen
Một mình tôi… một mình em… lạ thường
Dường như trăng chếch bên giường
Tiếng gà tiễn biệt đêm trường lặng im.
(1942)
 
 
            Gió không cánh bay có nghĩa là trời im, lặng gió. Không có tiếng hò ru em trong đêm khuya, rượu thì nhạt thếch (không men), và như chỉ có hai người (tôi và em) và bóng trăng chếch bên giường. Trong cái lặng im đó, bỗng có tiếng gà gáy vang lên. Tiếng gà tiễn biệt có nghĩa là tiếng gà nhắc nhở thời gian đã qua, giờ chia tay, tiễn biệt nhau đang tới gần.
 
 
            Hình như có một ít dáng dấp, hình ảnh và tuổi tác của những nhân vật Tỳ Bà Hành trong bài thơ “Nếu anh còn trẻ” của Hoàng Cầm. Người đàn bà đánh đàn tỳ bà trên bến Tầm Dương có thể là một vũ nữ về già nào đó đã kinh qua đời nhà thơ khi nhà trơ không trẻ “như năm ấy!”. Ông mơ tưởng một thời gian cũ để “anh đàn em hát níu xuân xanh.” Giờ thì hết rồi, duyên phận đưa người con ấy đi về một hướng khác, còn chính ông thì lưu lạc một bến sông nào đó trong những bến đời xa xôi.
            Có một bận, Hoàng Cầm trở về sau khi từ biệt những “bến sông xa”. Ông chẳng tìm lại được gì ở quê cũ, bởi vì “em còn đấy hay đâu mất?” (1). Chỉ còn lại đây “Cuối xóm buồn teo một tiếng gà.”
 
           
 
Nếu anh còn trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh
Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận
Anh lụy đời quên bến khói sương
Năm tháng… năm cung mờ cách biệt
Bao giờ em hết nợ Tầm dương?
Nếu có ngày mai anh trở gót
Quay về lãng đãng bến sông xa
Thì em còn đấy hay đâu mất?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà…
 
            Qua hai bài thơ nầy, chúng ta có thể thấy hai thời điểm khác nhau của tiếng gà gáy. Trong bài thơ trước, tiếng gà gáy vang lên trong đêm khuya, đêm dài (trường). Ở bài thơ thứ hai, tiếng gà gáy vào ban ngày.
            Tiếng gày đêm báo giờ chia tay, cũng tiếng gà gáy sáng báo hiệu một ngày mới bắt đầu.
            Tiếng gà gáy giữa trưa hay nửa chiều, bao giờ cũng mang một chút buồn nào đó, một nỗi buồn rất khó nói, khó tìm ra căn nguyên.
Thật vậy, Lưu Trọng Lư có mấy câu thơ:
 
            Những lần nắng mới hắt bên song
            Xao xác gà trưa gáy não nùng
 
Hết mùa đông, những ngày mưa và u ám lạnh lẽo đã qua, mùa xuân tới với những làn nắng mới. Cây cỏ như thức tỉnh, vươn dậy, lòng người cũng tươi sáng hơn, vui với mùa xuân. Thế nhưng, Lưu Trọng Lư buồn (não nùng) vì tiếng gà trưa gáy xao xác. Ở đây, không phải vì người buồn nên cảnh buồn như trong Kiều: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!” mà chính vì cảnh buồn nên làm cho người buồn theo. Trong cảnh một buổi trưa thôn quê vắng lặng, trời đất thì mênh mông một màu xanh ngát. Vậy rồi bỗng vang lên một tiếng gà gáy đơn lẻ. Đơn lẻ vì gà gáy trưa không như gà gáy sáng. Hừng đông, một tiếng gà gáy vang lên, cả chục tiếng gà hòa nhịp.
 
Chế Lan Viên, một hôm nào đó, thấy nhớ nhà, nhớ nhà cha mẹ, nhớ ngôi trường cũ, nhớ khung trời xanh nơi quê nhà và bỗng nhớ thêm một âm thanh đột biến, gần gũi vì “tiếng gà trưa gáy não nùng” như Lưu Trọng Lư vậy:
 
Nhớ biển miền Trung tiếng sóng đùa
Nhớ nhà cha mẹ, cảnh trường xưa...
Nhớ chao ôi nhớ! Trời xanh thế!
Gà lại dồn thêm tiếng gáy trưa!
 
Nếu như Huy Cận “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” thì dễ tìm trong thơ ông một tiếng gà. Tình ấy, cảnh ấy dễ đi với nhau. Và trong khung cảnh xuôi ngược đi về trên những giòng sông thôn quê, người ta rất dễ nghe “một tiếng gà”. Bài thơ “Em Về Nhà” của Huy Cận, cái nhà nầy chắc hẵn ở một làng quê, đường về phải qua sông nước, rồi trong nhớ nhung, buồn bã ấy, tiếng gà đóng một vai quan trọng:

“Tới ngã ba sông nước bốn bề,
Nửa chiều gà lạ gáy bên đê.
Làng xa lặng lẽ sau tre trúc;
Bến cũ thuyền em sắp ghé về.”
 
            Như tôi có nói, cảnh thôn quê thường mênh mông biển rộng, sông dài. Thuyền đưa khách tới ngã ba sông chỉ thấy sông nước. Cảnh ấy vui làm sao được. Bỗng có tiếng gà bên sông vẵng tới, cũng khó mà không “não nùng” như tiếng gà trong thơ Lưu Trọng Lư.
 
            Tiếng gà gáy, dù ban đem hay ban ngày, cũng nói lên không khí thanh bình của làng quê. Thật vậy, nơi nào “chó không sủa, gà không gáy” thì nơi đó không phải là nơi có cảnh hiền hòa.
Người ta nói, sau hiệp định Genève 1954, Văn Cao soạn bài hát “Mùa Xuân Đầu Tiên” nói lên cảnh thanh bình của ở miền Bắc! Có đúng không nhỉ? Bởi vì điều Văn Cao ca ngợi khác với khung cảnh làng quê Bắc phần thời đó qua bài thơ “Chống tham o lãng phí” của Phùng Quán với mấy câu thơ “Tôi đã đi qua
“Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu ròng ròng
Bởi đồn giặc, trồng ngô trỉa lúa...
 
“Tôi đã đi qua
Những xóm làng vùng Kiến An, Hồng Quảng
Nước biển dâng cao ướp muối các cánh đồng
Hai mùa rồi, lúa không có một bông
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ;

“Tôi đã gặp
Những em thơ còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám và rau
Mới tháng ba đã ngóng mau ra Tết !
Để được ăn no có thịt
Một ngày...một ngày...”
 
Thôi cứ cho là Văn Cao chân thật với ông ta đi, nên
cái cảnh thanh bình trong bài hát của Văn Cao lại có tiếng gà gáy ở bên sông:
 
“Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người.
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông,
gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi
hôm nay mênh mông.
 
 
            Quê Hoàng Cầm ở Bắc Ninh, gần Hà Nội. Do vậy, trong thời gian theo kháng chiến chống Pháp, ông ít về quê, để nhìn lại dòng sông Đuống.
            Sông Đuống là một con sông ngắn, nối liền sông Nhị và sông Thái Bình, là con đưòng thủy nối liền Hải Phòng với Hà Nội. Dĩ nhiên trong chiến tranh 1945-54, bọn Pháp canh giữ con sông nầy chặt chẽ khiến Hoàng Cầm không về thăm quê được, nhớ Bắc Ninh đến da diết. Có lẽ đó là cái động lực chính để ông sáng tác bài thơ “Bên kia sông Đuống”.
            Trong bài thơ nầy, Hoàng Cầm có nhắc đến gà, không phải là gà để nuôi, để ăn, mà gà trong tranh tết. Người Việt, dù ở chốn quê mùa, cũng yêu thích nghệ thuật. Ngày tết, họ cũng mua tranh tết về treo trong nhà. Tranh tết thường là tranh gà, lợn, hái dừa… Tranh gà lợn là loạt tranh “mộc bản” (khắc trên gỗ, in màu trên loại giấy đặc biệt gọi là giấy điệp) sản phẩm đặc biệt của làng Đông Hồ, Bắc Ninh.
 
“Bên kia sông Đuống
“Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
 
            (Còn tiếp)
 
            hoànglonghải
 
 
           
(1) “Em còn đấy hay đâu mất” ở bài thơ trên của Hoàng Cầm là một câu thơ “lững lơ con cá vàng!” Nó không nói chắc cái gì cả. Nói cho rõ thì nếu “em còn đó” tức là “em chưa đi”. Còn như “em không còn đấy là em đã đi rồi”. Nguyên Sa trong bài “Tiễn Em” cũng có một câu như thế: “Người sắp đi chưa hay đi rồi?”
            Cái ý thơ lững lơ như thế, về sau được Trịnh Công Sơn khai thác. Mỹ Tín, một nhà nghiên cứu về thiền cho rằng đó là nhạc thiền. Tính chất thiền đó xuất hiện khá nhiều trong những bài hát của ông Trịnh. Nó man mát trong “Quỳnh thơm hay môi em thơm”, ở “Trong vườn trăng vừa khép những đóa mong manh”, trong “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi, Lại thấy trong ta hiện bóng con người”, và “Trong khi ta về lại nhớ ta đi.” v.v…
            Tôi không nghĩ rằng những người giỏi về thiền mới làm được thơ thiền. Cũng vì vậy, tôi không nghĩ Trịnh Công Sơn rành về thiền. Ông ta là một nghệ sĩ, có tâm hồn nghệ sĩ và có những cảm nhận tinh tế và sâu sắc về văn chương, triết học, mặc dầu ông thi hỏng Tú Tài 2 (Việt Nam) và chỉ đậu Tú Tài 1 (chương trình Pháp). Ông ta học chương trình Pháp từ tuổi rất nhỏ và mù tịt về ca dao. Nguyễn Thanh Ty, trong “Một quãng đời của Trịnh Công Sơn” thuật lại rằng, khi mới ra làm giáo viên ở Bảo Lộc, một hôm nghe bài “Đêm Buồn”, ca dao, do Phạm Duy phổ nhạc, ông Trịnh bảo với bạn rằng Phạm Duy đặt lời ca rất hay. Ông Nguyễn Thanh Ty phải giải thích cho ông Sơn hay rằng đó là ca dao. Từ đó, Trịnh Công Sơn bắt đầu nghiên cứu về ca dao. Sau đó, ông có nhiều bài hát hay như ca dao. Có lẽ hay nhứt là bài “Biết đâu nguồn cội” của ông. Trường hợp ông Trịnh đi vào nhạc thiền, theo tôi nghĩ, có lẽ cũng tương tự như vậy. Nói theo duy tâm, có thể người ta cho đó là sự mặc khải của Thượng Đế. Tôi thì tôi không tin sự mặc khải nào cả. Trong muôn triệu tỷ tỷ con người do tạo hóa sinh ra, có những con người, những dân tộc đặc biệt, khó giải thích theo khoa học hiện đại.
            Điều đáng buồn là thấy thơ thiền “ăn khách” nên không ít người đâm ra háo danh, cũng làm thơ thiền. Dĩ nhiên, tiếng hót của con quạ không thể là tiếng hót của con chim khách!!!

 
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
 
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
 
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
 
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Đêm buông xuống bên dòng sông Đuống
- Con là ai? – Con ở đâu về?
Hé một cánh liếp
- Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu buổi trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
“À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
“Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu…”
Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.
(Việt Bắc, tháng 4-1948)

DanQuyen.com
    Phản Hồi Của Độc Giả Về Bài Viết
Họ và Tên
Địa chỉ
Email
Tiêu đề
Nội dung
Gửi cho bạn bè Phản hồi

Các bài viết mới:
    Xuất bản hồi ký 'Đoàn binh Tây Tiến' (04-09-2019)
    Hồi ký Michelle Obama (kỳ một): Obama đi trễ ở lần đầu gặp vợ (28-08-2019)
    Truyện ngắn của Hồ Anh Thái: Chỗ ngồi (03-08-2019)
    CON AC MONG MY (4) (11-04-2019)
    CƠN ÁC MỘNG MỸ (3) (31-03-2019)
    CƠN ÁC MỘNG MỸ (2) (20-03-2019)
    CƠN ÁC MỘNG MỸ (13-03-2019)
    DONALD TRUMP  (01-03-2019)
    Nỗi buồn chiến tranh hay phía tây không có gì lạ (03-11-2018)
    Tôn trọng khác biệt làm nên hạnh phúc (20-10-2018)
    Từ tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đến Chuyện tình Lan và Điệp (06-10-2018)
    Homo Deus: Tương lai có thuộc về loài người? (04-10-2018)
    Tiểu thuyết nổi tiếng với tựa một chữ “V.” ra mắt độc giả Việt Nam (25-09-2018)
    Những điều Cha Mẹ có thể học được từ "Giết con chim Nhại" (22-09-2018)
    THẾ GIỚI CỔ TÍCH U SẦU ĐẸP ĐẼ CỦA OSCAR WILDE (16-09-2018)
    TẠI SAO ĐỌC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN (03-09-2018)
    HENRYK SIENKIEWICZ-NHÀ VĂN LỚN CỦA BA LAN VÀ THẾ GIỚI (30-08-2018)
    Vào Thu - Nhớ Về Chị (23-10-2017)
    Như Cỏ Xót Xa Đưa (14-09-2017)
    Cảo thơm lần giở: Rabelais nghĩ gì? (19-08-2017)
 
"Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam".

Chuyển Tiếng Việt


    Truyện Ngắn
MẸ TÔI


   Sự Kiện

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn





 

Copyright © 2010 DanQuyen.com - Cơ Quan Ngôn Luận Người Việt Hải Ngoại
Địa Chỉ Liên Lạc Thư Tín:
E-mail: danquyennews@aol.com
Lượt Truy Cập : 129547305.