Theo quan niệm hiện nay, hen
suyễn là tình trạng viêm mạn tính và tăng tiết dịch của đường
thở với những cơn hen cấp tái diễn. Cơn hen cấp diễn tiến rất
thất thường, lúc nhẹ lúc nặng có thể chết nếu không được xử trí
đúng mức. Khi qua cơn, đa số người bệnh cảm thấy bình thường
nhưng thật ra quá trình viêm vẫn còn tiếp diễn âm thầm. Trong
phế quản liên tục xảy ra 2 quá trình đối ngược nhau là bị tổn
thương và tự phục hồi làm thay đổi cấu trúc lẫn chức năng được
đặt tên là ''tái cấu trúc''. Mức độ ''tái cấu trúc" ít hay nhiều
tùy từng cá thể mà hậu quả đáng ngại nhất là thường xuyên xảy ra
cơn hen cấp và tắc nghẽn không phục hồi gây tàn phế hô hấp.
Hen suyễn tuy chưa trị dứt hẳn được nhưng hoàn toàn có thể kiểm
soát tốt trong hầu hết các trường hợp nếu có sự hợp tác tốt giữa
thầy thuốc và người bệnh.
Ðể kiểm soát thành công cần phải có:
Chọn lựa thuốc thích hợp nhất.
Quản lý hen suyễn lâu dài.
Ðiều trị cắt cơn hen cấp tính.
Xác định và ngăn ngừa các yếu tố kích phát làm bệnh nặng hơn.
Giáo dục bệnh nhân thay đổi môi trường sống của họ.
Theo dõi và thay đổi cách chăm sóc thật hiệu quả trong việc kiểm
soát lâu dài.
Chẩn đoán và quản lý bệnh hen gồm rất nhiều đề mục nhưng có 1
câu hỏi rất thiết thực là: "Người hen suyễn nên dạng thuốc gì và
tránh dùng thuốc gì ?" để giúp người bệnh có thể "sống vui với
suyễn''
Thuốc cắt cơn hen
Nhóm cường giao cảm beta 2 tác dụng nhanh dạng hít là thuốc hàng
đầu vì tác dụng khởi phát nhanh nhất (3 - 5 phút), kéo dài trong
4 - 6 giờ, ít tác dụng phụ nhất so với các dạng uống hoặc tiêm.
Thí dụ như salbutamol (Ventolin). Tiện dụng nhất là dạng hít
định liều rất nhỏ gọn để luôn luôn mang theo bên mình làm ''báu
vật hộ thân''. Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi cần gắn dạng hít dính liều
vào máy hít của trẻ em (Babyhaler) có mặt nạ mềm và hệ thống van
giúp bé dễ dàng hít thuốc.
Thuốc kiểm soát hen
Corticoid dạng hít là thuốc hàng đầu cho bệnh hen bậc 2 (có
triệu chứng ban ngày 2 - 6 lần/tuần hoặc triệu chứng ban đêm 8
-4 lần/ tháng): beclomethasone, budesonide, fluticasone...
ICS + LAIBA: Cường giao cảm B2 tác dụng chậm dạng hít, là thuốc
hàng đầu cho bệnh hen bậc 3 (có triệu chứng ban ngày thường
xuyên mỗi ngày hoặc triệu chứng ban đêm 2 - 6 lần/tuần) và bậc 4
(có triệu chứng liên tục cả ngày lẫn đêm). Phổ biến nhất là:
fluticasone + salmeterol (Seretide) vì có tác dụng hiệp đồng
trên kiểm soát hen, cải thiện chức năng phổi, đạt hiệu quả sớm
giúp giảm nhu cầu dùng thuốc cắt cơn. Ðang có khuynh hướng dùng
cho cả bậc 2 nếu túi tiền cho phép.
Chú ý: Liều dùng tăng hay giảm cần theo hướng dẫn của thầy thuốc
chuyên khoa. Chỉ khi nào kiểm soát hen ổn định liên tục trong 3
tháng mới giảm liều.
Dù bệnh ổn định trong thời gian dài cũng không bao giờ quên mang
theo thuốc cắt cơn vì cơn hen cấp có thể xảy ra bất cứ lúc nào,
có thể đe dọa sinh mạng.
Tránh dùng các loại thuốc làm nặng thêm tình trạng hen: Thường
quên phần chống chỉ định do không hỏi kỹ tiền căn hen.
Nhóm chẹn beta (B-blocker) như propranolol, metoprolol, atenolol...
thường dùng trong cao huyết áp, rối loạn nhịp tim.
Aspirin, kháng viêm không ste-roid (NSAID) như piroxicam,
meloxicam... thường dùng trong giảm đau, hạ sốt, kháng viêm.
Acetylcystein thường dùng khi trẻ em ho đàm, khò khè! Lầm tưởng
rằng long đàm giúp dễ thở.
Chú ý người bệnh hen thường có cơ địa dị ứng nên phải tuân thủ
triệt để phác đồ phòng chống sốt phản vệ.
Các loại thuốc trị hen không phải dạng hít:
Triamcinlone dạng tiêm (Kenakort, Kcort,...) gây tác dụng phụ
rất nặng. Các chuyên gia đã bỏ hẳn không dùng nữa từ năm 1988,
chỉ dùng dạng hít.
Corticoid tiêm hoặc uống chỉ nên dùng ngắn hạn (3 - 10 ngày)
trong cơn hen cấp. Dùng lâu ngày gây loãng xương, cao huyết áp,
tiểu đường, đục thủy tinh thể, ức chế thượng thận, béo phì, mỏng
da hay yếu cơ. Cân nhắc các tình huống có thể làm xấu đi khi
dùng steroides uống như: nhiễm herpes, thủy đậu, lao, cao huyết
áp...
Lao BA Viên phóng thích chậm chứa salbutamaol (Volmax) có thể
gây kích thích tim mạch, lo lắng, ợ chua, rung cơ, nhức đầu hay
hạ kali máu. Chủ yếu dùng phối hợp các thuốc khác trong hen bậc
3-4.
Theophylline, Ami-nophylline: liều gây độc (co giật loạn nhịp
tim gần với liều điều trị. Dạng tiêm tĩnh mạch chỉ cân nhắc dùng
trong cơn hen nặng cấp cứu không đáp ứng với RAiBA + IAC, oxy-
gen, corticoid tiêm, RABA tim. Dạng viên uống phóng thích chậm (sus-
tained-realease) thường gây buồn nôn, ói. Chủ yếu dùng phối hợp
các thuốc khác trong hen bậc 3 - 4.
Leukotriene modifier: Vai trò của antileukotriene trong điều trị
hen chưa chắc chắn và so với LAIBA thì kém hiệu quả hơn trong
tác dụ nghiệp đồng với ICS. Chủ yếu dùng phối hợp các thuốc khác
trong hen bậc 3- 4.
RABA dễ gây rung cơ nhịp tim nhanh, nhức đầu và kích thích thần
kinh. Dạng tiêm chỉ cân nhắc dùng trong cơn hen nặng cấp cứu
không đáp ứng với RAIBA + IAC. Dạng uống chỉ dùng khi không có
dạng hít.
Adrenalin gây tác dụng phụ như rabanhưng nhiều hơn và kèm thêm
co giật, lạnh run, sốt và ảo giác. Không bao giờ dùng trừ khi
cấp cứu mà không có raba.
Tóm lại
Ðường dùng tối ưu của các loại thuốc trị hen là dạng hít (tác
dụng nhanh nhất, hiệu quả nhất, ít tác hại nhất) nên có câu vè
vui vui: ''Nếu có thể uống thì đừng chích và nếu có thể hít thì
đừng uống. Mọi ngừơi hen nên luôn luôn mang theo thuốc cắt cơn
như Ventolin MDI. Từ bậc 2- 4 cần dùng thêm Becotide, Seretide...
Khi lên cơn hen cấp dùng Ventolin 4 - 8 xịt, lập lại mỗi 20 phút
khi cần thiết. Nếu sau 3 lần mà triệu chứng không giảm hoặc giảm
chưa đầy 3 giờ lại tái phát thì nên nhập viện ngay.