Ung thư là bệnh lý ác tính của tê
bào, khi bị kích thích của các tác nhàn sinh ung thu, tê bào
tràng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức kháng tuân theo các cơ
chế kiểm soát về phát triển của cơ thể. Ða so bệnh ung thu hình
thành các khối u. Khác với các khói u lành tính chỉ phát triển
tại chỗ thường rất chậm, có vó bọc xung quanh, các khói u ác
tính (ung thư) xâm lấn vào các tố chức lành xung quanh giống như
hình ''con cua'' vòi các càng cua bám vào các tố chức lành trong
cơ thề HOCIC giống như rể cành lan trong đất. Các tế bào của
khối u ác tính có khả nàng di càn tói các hạch bạch huyết hoác
các tạng ở xa hình thành các khói u mới và cuối cùng dẫn tói tủ
vong. Ung thư là bệnh có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát
sinh và phát triển lâu dài qua từng giai đoạn. Trừ một số nhỏ
ung thư có trẻ em có thé do đột biến gien từ lúc bào thai, còn
phăn lớn các ung thư đâu có giai đoạn tiềm tàng lâu dài, có khi
hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thày dưới
dạng các khối u Lúc này khối u sẽ phát triển nhanh và mói có các
triệu chứng của bệnh. Triệu chứng đau thương chi xuất hiện khi
bệnh ỏ giai đoạn cuối. Ung thư không phải là một bệnh, người ta
biết được có đến hơn 200 loại ung thu khác nhau trên co thể
nguôi. Những loại ung thư này tuy có những đặc điểm giống nhau
vê bán chát nhưng chung có nhiêu điểm khác nhau như sau :
Khác nhau về nguyên nhân
Qua các nghiên cứu dịch tễ học của R.Doll và Petro trên 80% tác
nhân sinh ung thư là bắt nguồn tù môi trường sống. Trong đó hai
tác nhân lớn nhất là: 35% do chế độ uống gây nhiều loại ung thư
đồng tiêu hóa và khoảng 30% ung thư do thuốc lá (gây ung thư
phối, ung thư đồng hô hấp trên ...)
Các tác nhân khác bao gồm nhiêu loại như.
- Tia phóng xạ có thé gây ung thư máu, ung thư tuyến giáp.
- Bức xạ tử ngoại có thể gây ung thư da.
- Virut Epstein -Barr gây ung thư vòm họng, u lim phô ác tính ;
virut viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) dẫn đến gây ung thư gan..
- Nhiều loại hóa chất được sử dụng trong công nghiệp, trong thực
phẩm, trong chiến tranh, các chát thải ra môi trường nước và
không khí là tác nhân của nhau loại ung thư khác nhau...
Khác nhau về tiến triền của bệnh
Bệnh ung thư thường xuất phát từ hai loại tổ chức chính của cơ
thể :
- Từ các tế bào biểu mô của các tạng, các cơ quan (ung thư biểu
mô)
- Từ các tế bào của tó chức liên kết của cơ thể (các sarcoma).
Ung thư của cơ quan tạo huyết (máu, hạch limphô) là một dạng đặc
biệt của ung thư tổ chức liên kết (Hematosarcoma). Mỗi loại ung
thư có dạng tiến triễn khác nhau. Trong từng loại, mỗi bệnh ung
thu ỏ mỗi cá thể khác nhau xu hướng tiến triển cũng rất khác
nhau. Có loại ung thư trên triền rát nhanh (ung thư máu, hạch,
ung thư hắc tó, các ung thư liên kết...)
Có nhiêu loại ung thư tiến triễn chậm
Ung thư da tế bào đáy, ung thư giáp trạng, ung thư cổ tứ cung
...
Loại ung thư biểu mô thường di càn theo đường bạch mạch tói các
hạch khu vực.
Loại ung thư liên kết (xương, phần mềm) thường di căn theo đường
máu tói các tạng ớ xa (vào gan, phòi, xương).Thông thường bệnh
càng ỏ giai đoạn muộn càng hay có di căn ra hạch khu vực và di
căn xa nhưng đôi khi có di căn rất sớm thậm chí từ lúc chưa phát
hiện thăm u nguyên phát.Tốc độ phát triển của bệnh cùng tùy
thuộc vào từng giai đoạn của bệnh. ở những giai đoạn sóm (institu,
giai đoạn 1) thường tiến triển lâu dài, chậm chạp nhưng khi ó
các giai đoạn muộn (giai đoạn 3, 4) tiến triễn thường rất nhanh
và gây tử vong. Ung thư ỏ 1 người càng trẻ thường tiến triển
nhanh hơn ớ người già.
Khác nhau về phương pháp điều trị.
Trong y văn có nói đến một t? lệ rất nhỏ (1/10.000) ung thư tự
khỏi. Có thế ở những cơ th? cá biệt có hệ thống miễn dịch tự
điều chỉnh, tiêu diệt được các tế bào ung thư sau khi đà phát
sinh. Nhung trên càn bản nếu không điều trị thì chắc chắn bệnh
nhân sè sớm dân đến tử vong. Càng điêu trị ó giai đoạn sớm của
bệnh càng có nhiều cơ may khỏi bệnh. ỏ nhũng giai đoạn muộn hơn
cúng cần điều trị để có thể tạm thòi ổn định hoc'c kéo dài th?i
gian sóng hoặc làm giám các triệu chúng của bệnh.
Mỗi loại ung thư, mói gia đoạn có nhưng phương pháp điều tr?
khác nhau.
+ Ðiều trị phẫu thuật : thường áp dụng cho ung thư ó các giai
đoạn sớm, chưa có di căn.
+ Ðiều trị tia xạ : Thường áp dụng cho nhưng ung thư ỏ giai đoạn
trong đói muộn hon, thường phòi hợp vòi phẫu thuật làm thu nhỏ
bớt khói u để dễ mó (Tia xạ tróc mổ) hoặc diệt nót nhưng tê bào
u tại chỗ và hạch khu vục mà khi mổ nghi ngò không lấy hết được
(Tia xạ sau mó, trong lúc mổ ...), hoặc áp ung tia xạ cho nhưng
ung thư ỏ các vị trí không thể mổ được.
+ Ðiều trị hóa chất
Trước đây thường áp dụng cho nh?ng loại ung thư có tính chất
toàn thân hoặc ở giai đoạn muộn, có di càn xa, nhưng ngày nay cả
một số ung thu ở giai đoạn sớm trên làm sàng nhưng tính chất ác
tính cao, dễ cho di căn hoặc nghi có vi di càn ung thu vú, ung
thư tinh hoàn, ung thư buồng trứng, ung thư rau ...) người ta
cũng sử dụng điều trị hóa chất để PHÒNG ngừa nâng cao hiệu quả
điều trị.
+ Ðiều trị miễn dịch
Là một trong các phương pháp điều trị toàn thân, còn đang được
nghiên cứu và có nhiều hy vọng. Có nhiều thử nghiệm đã áp dụng
như điều trị kích thích miễn dịch, không đặc hiệu, điều trị bằng
Interferon các lymphokin và gần đây là các nghiên cứu dùng kháng
thể đơn dòng đã điều trị một số bệnh ung thư có kết quả tốt
Trong điêu trị ung thu người thày thuộc sẽ càn cứ vào tùng loại
bệnh, từng giai đoạn, từng tính chất của tê bào u, từng cá thề
mà áp dụng một hay nhiêu phương pháp theo nhưng thể thức trong
các phác đồ điều trị cụ thể.
Khác nhau về tiên lượng bệnh
Tiên lượng bệnh phụ thuộc rất nhi?u yếu tô trên từng bệnh nhân,
những yếu tố chính là:
- Giai đoạn bệnh: càng sóm tiên lượng càng tót và ngục lạ.
- Loại bệnh : Có ung thư tiên lượng tốt hon là những ung thư ở
bê mặt (dễ phát hiện, dễ điều trị) như ung thư da ung thư cổ tử
cung, ung thư vú, ung thư giáp trạng, ung thư khoang miệng, ung
thư đại trục tràng ... Có những ung thu ở các tạng quan trọng
hoặc khó phát hiện sóm, khô điêu trị, tiên lượng thuổng xấu như
ung thư phối gan, não, tụy, xương ...Tính chất ác tính của tế
bào ung thư : cùng 1 loại ung thư, cùng giai đoạn lâm sàng nhưng
độ ác tính càng cao tiên lượng càng xấu.
- Thể trạng người bệnh: ở người già ung thư thuổng tiên triền
chàm hon nhưng thể trạng yếu nên khó thực hiện được phác đồ điêu
trị một cách triệt để nên càng già yêu tiên luồng càng xấu.
Có thể phòng ngừa được nhiều loại ung thư
Như trên đã đề cập đến tác nhân sinh ung thư chủ yêu là từ bên
ngoài môi trường (trên 80%) tác nhân nội sinh rặt ít (chỉ khoảng
10%). Vì vậy, phòng bệnh ung thư có hiệu quá khi ngàn chặn các
tác nhân do môi trường tác động vào đời sóng con người : ngưng
hút thuốc lá, chê độ dinh dường vệ sinh an toàn hợp lý, chống
lạm dụng các hóa chất công nghiệp, chóng ô nhiễm môi trường,
phòng bệnh nghề nghiệp ... sẽ làm giảm tỉ lệ mắc ung thư. Một só
loại ung thu có liên quan đến virut đã được áp dụng vacxin phòng
bệnh nhu vacxin phòng viêm gan B, đang nghiên cứu vacxin phòng
ESPTEIN-BARR gây ung thư vòm họng và u lim phô ...Ngoài ra các
biện pháp điều trị tổn thương tiền ung thư, các biện pháp sàng
lọc phát hiện sớm một số ung thư hay gài (vú, cố tử cung, khoang
miệng, đại trục tràng ...) là thiết thực làm giảm tỉ lệ mắc bệnh,
giảm ti lệ tử vong do ung thư.
Ung thư là bệnh có thé điều trị khỏi khi ở giai đoạn sớm?
Trước đây có quan niệm sai làm mắc ung thư là vô phương cứu chừa,
không được ''dùng dao kéo'' để điều trị ung thư....
Có thể nhưng quan niệm này bắt nguồn từ chổ hầu hết khi bệnh
nhân ung thư khi được phát hiện đều ó giai đoạn muộn và một số
can thiệp phẫu thuật sai kĩ thuật hoặc khi không có chỉ định (ung
thư vú giai đoạn viêm cấp ung thư đà lan tràn ...)
Trên thực tế nhiều người bệnh ung thư đà được cứu sống bằng các
phương pháp điều trị khoa học, nhất là khi được phát hiện ỏ các
giai đoạn còn sớm. Hiện nay ở các nước tiên tiến tính trung bình
cứ 2 nguôi bị ung thư thì có 1 người được chữa khỏi (50%). Với
những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, Cải tiến các phương pháp
điều trị, đặc biệt là áp dụng các biện pháp sàng lọc phát hiện
sớm, đến năm 2010 người ta hy vọng có thể chữa khỏi tới 3/4 số
người bệnh ung thư.
Như vậy vấn đề chính không phải không có cách điều trị mà là
điều trị ớ thời điểm nào. Kết quả điều trị hoàn toàn tùy thuộc
vào sự hiểu biết của người dân và điều kiện y tế.