Trang nhất
  Xã Luận
  Đọc Báo Trong Nước
  Truyện Ngắn
  Kinh Tế
  Âm vang sử Việt
  Tin Thể Thao
  Y Học
  Tâm lý - Xã hội
  Công Nghệ
  Ẩm Thực

    Diễn Đàn Biển Đông
Phản đối mạnh mẽ mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
    Hình Ảnh Quê Nhà - Video Clip
Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới
    Tin Thế Giới
Quân đội Iran công bố quyết định bất ngờ sau tuyên bố tiến hành 'một tuần tấn công liên tục'
    Tin Việt Nam
Việt Nam - Thái Lan hướng tới mốc thương mại 50 tỷ USD
    Tin Cộng Đồng
Chưa ghi nhận thương vong về người Việt trong trận động đất ở Philippines
    Tin Hoa Kỳ
Mỹ cải tổ hệ thống hải quan, siết chặt quản lý hoạt động nhập khẩu
    Văn Nghệ
Tìm kiếm thực lực kế thừa cải lương
    Điện Ảnh
TP Hồ Chí Minh quyết tâm xây dựng 'Thành phố điện ảnh' qua liên hoan phim
    Âm Nhạc
Lizzo đáp trả cáo buộc 'nói xấu' Taylor Swift
    Văn Học
Nhà nghiên cứu sẽ bị cấm vô thời hạn nếu đạo văn, dùng dữ liệu giả

Thông Tin Tòa Soạn

Tổng biên tập:
Tiến Sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt
Phụ Tá Tổng Biên Tập
Tiến Sĩ
Nhật Khánh Thy Nguyễn
Tổng Thư ký:
Quách Y Lành




   
Tay súng, tay cày trên biển đảo quê hương
*LTS: Có lẽ 40 năm qua đi chưa đủ để là một bề dày đáng kể về truyền thống giữ vững biển đảo quê hương; nhưng dù có thời gian hay không, Hoàng Sa, Trường Sa vẫn luôn ở trong tâm thức người Việt, kể từ xa xưa cho đến giờ. Một sự khẳng định gần như là máu thịt: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam…

 


*Chủ quyền đã có từ xa xưa.

 

Năm 1558, Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, vào trấn thủ vùng Thuận Hóa. Cũng bắt đầu từ đó trên đất nước Việt Nam diễn ra cục diện Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài trên hai trăm năm ở 9 đời chúa. Nguyễn Hoàng băng hà năm 1614, ở ngôi 56 năm, hưởng thọ 89 tuổi. 

 

Người kế vị ông, chúa Nguyễn Phúc Nguyên mở nước về phương Nam cho đến tận vùng cực nam Trung Bộ hiện nay. Đây là thời kỳ xuất hiện tầm nhìn chiến lược hướng ra biển của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Đó là vươn ra biển xác lập chủ quyền của mình ở những hòn đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển Đông. Sách Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn đã xác nhận một sự thực:“Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã Yên Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng Giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp phát mỗi người sáu tháng lương (…) Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn lấy người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Quan địa phương cấp phát phó từ và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác.

 

Nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải này, vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi, còn như vàng bạc và các của cải quý báu thì ít khi họ tìm kiếm được”.

 

Rõ ràng, từ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, đặc biệt dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược có sự phát triển liên tục, từ chiếm hữu đến khẳng định chủ quyền đất nước trên các đảo gần bờ và đặc biệt là hai quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa và Trường Sa. Tầm nhìn hướng biển đó vẫn được tiếp tục dưới thời các chúa Nguyễn kế vị và đặc biệt được nâng cấp khi thành lập Vương triều Nguyễn năm 1802, bắt đầu từ Gia Long và tiếp nối mạnh mẽ hơn dưới thời vua Minh Mạng.

 

Gia Long, vị vua khai sáng Triều Nguyễn và vua Minh Mạng sau này đã nâng cấp tầm nhìn hướng biển, không chỉ hai quần đảo đó, mà còn thực thi nhiều chính sách, nhiều giải pháp để khẳng định chủ quyền của mình trên các đảo gần bờ như Phú Quốc, Côn Lôn.

 

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng Tư năm Tân Mão (1711) đã điều động quân lính và những người có trách nhiệm mang các phương tiện đo vẽ đi thuyền ra “đo bãi cát vàng Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu” (Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 126). Sự kiện nổi bật nhất thời Gia Long trong việc khẳng định chủ quyền của quốc gia trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lễ thượng cờ và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo đó. Sự kiện trọng đại ấy được miêu tả hết sức vắn tắt trong Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 922 bằng một câu: “Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy”. Mười bảy năm sau, năm 1833, giám mục Jean Louis Tarberd, người đã nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong (phần đất từ đèo Ngang trở vào) trong một công trình của mình đã viết khá rõ về sự kiện trọng đại đó: “Chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chú tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong (thời này xứ Đàng Trong được hiểu là nước Việt Nam)” .

  


Đây là một trong những bản đồ trong “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776. Ông mô tả tỉ mỉ địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa, công việc khai thác của chúa Nguyễn đối với 2 quần đảo này.(Theo sách Kỷ yếu Hoàng Sa của NXB Thông tin và Truyền thông).

 

 Tiếp tục ý tưởng của vua cha, năm 1833, Minh Mệnh đã nói với Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới, dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời” (sđd, tr.743). Tháng Sáu năm Ất Mùi (1835), Bộ Công cho dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Đại Nam Thực lục có ghi: “Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lý ba bình” (muôn dặm sóng êm), cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước (1 trượng bằng 10 thước, 1 thước đo đất bằng 0,47m) ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch). Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai Cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 4 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về”.

 

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1946, Pháp đưa một phân đội bộ binh đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza trở lại Hoàng Sa. Dựa trên Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam, 4 tàu chiến của Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên quần đảo với lý do giải giáp quân Nhật trong năm 1946. Ngày 17 tháng 1 năm 1947, pháo hạm Le Tonkinois của Hải quân Pháp đến quần đảo Hoàng Sa để đòi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đây và đã tiếp quản quần đảo Hoàng Sa sau khi quân đội Tưởng Giới Thạch rút quân vào tháng 4 năm 1950.

 

Ngày 7/9/1951, tại Hội nghị San Francisco về việc ký hòa ước với Nhật Bản, ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ miền Nam Việt Nam thời đó trong phát biểu của mình, tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo: “… và cũng vì cần phải lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Spratlys (Trường Sa) và Paracels (Hoàng Sa), tạo thành một phần của Việt Nam”. Lời tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị bất cứ phái đoàn nào trong tổng số 51 quốc gia tham dự hội nghị phản đối. Lời tuyên bố đó đã được ghi vào biên bản của hội nghị. Đây là những cơ sở luật pháp rất quan trọng mà Trung Quốc không thể phủ nhận.

 

Hội nghị Geneva 1954 với sự tham dự của 9 quốc gia, gồm 5 cường quốc: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô và Trung Quốc đã minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hiệp định Geneva ký ngày 20/7/1954.

 

  

 

Tháng 4/1956, Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền VNCH đã đưa quân ra thay thế quân Pháp trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và đóng quân trên hai quần đảo, đảm nhiệm việc quản lý hai quần đảo theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Geneva năm 1954 về việc Việt Nam Cộng hòa được trao quyền quản lý tạm thời nửa nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong khi chờ đợi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do. Trong thời gian này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình đối với hai quần đảo bằng các hoạt động nhà nước (do Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía trong vĩ tuyến 17 theo đúng Hiệp định Geneva).

 


  

Ngày 20/10/1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra Sắc lệnh số 143-NV về thay đổi địa giới các tỉnh, thành phố miền Nam, trong đó đã đặt quần đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Phước Tuy. Trong Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 về việc sắp xếp lại quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước thuộc tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại đây một đơn vị hành chính gọi là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Từ 1961 đến 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt cho xây bia chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa: Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây, Song Tử Đông, Thị Tử, Loại Ta. Nghị định số 709-BNV-HCDP-26 ngày 21/10/1969 sát nhập xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Nghị định số 420-BNV-HĐP/26 ngày 06/9/1973 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ thi hành Quyết định của Hội đồng Nội các ngày 9/01/1973, quyết định sát nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai, Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

 

Ngày 5 và 6/5/1975, Chính quyền Hà Nội thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ. Từ đó Hà Nội tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 9/1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam (trước đây đã được đăng ký trong hệ thống các trạm của OMM dưới biểu số 48.860) trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới.

 

Như thế với chức năng kiểm soát sự khai thác các sản vật ở biển Đông và những hành động cụ thể trực tiếp khai thác các sản vật của Đội Hoàng Sa, một tổ chức dân binh liên tục gần hai thế kỷ suốt từ đầu thế kỷ 17 cho đến năm 1816 cùng những hành động xác lập và thực thi chủ quyền rất cụ thể như: xây cột mốc, dựng bia, xây miếu, trồng cây, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, khai thác tài nguyên của Việt Nam từ năm 1816 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua và triều đình, cũng như những lời tuyên bố của triều đình nhà Nguyễn và sự quản hạt hành chính vào Quảng Ngãi từ đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20… tất cả là những bằng chứng hiển nhiên về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước CHXHCN Việt Nam cũng đã nhiều lần khẳng định: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động của Việt Nam tiến hành trên các quần đảo và vùng biển của Việt Nam, kể cả việc phân lô, thăm dò và khai thác dầu khí là hoàn toàn bình thường, phù hợp với luật pháp Việt Nam, luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông năm 2002...

 

*Và Trường Sa giàu đẹp ngày nay.

 

Trường Sa giờ đã có ánh điện lung linh, nhà cửa khang trang, trường học, bệnh xá và cả những ngôi chùa. Năm 2008, dự án xây dựng hệ thống năng lượng sạch và chiếu sáng quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK đượcthực hiện. Năm 2010 dự án hoàn thành. Theo đó, tất cả 33 điểm đảo và 15 nhà giàn DK của quần đảo Trường Sa có điện 24/24 giờ. Đây là Dự án năng lượng sạch do Bộ Tư lệnh Hải quân làm chủ đầu tư, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Năng lượng Mặt trời Bách Khoa là đơn vị thi công. Trang bị trong các phòng nghỉ ở đây có đầy đủ máy lạnh, quạt điện, bình nóng lạnh hiện đại như các thành phố lớn. Tin tức, phóng sự truyền hình, phát thanh, bài viết  đều được  truyền về đất liền qua mạng di động 3G của Vietel. Mỗi khi tàu gần đến các đảo là mọi người đều tranh thủ lên boong tàu để gọi điện về cho người thân ở đất liền. Các chiến sỹ trên các đảo nổi, đảo chìm, nhà dàn DK đều có thể gọi điện về thăm gia đình qua mạng di động.

 

Về thế mạnh kinh tế của âu tàu duy nhất tại đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa, Đảo trưởng đảo Song Tử Tây, cho biết: “Âu tàu rộng gần 4ha, độ sâu 8 – 10m, có thể neo đậu gần 100 tàu cá công suất lớn của ngư dân. Từ nguồn điện ổn định kết hợp với âu tàu có sức chứa lớn, huyện đảo đã tổ chức nuôi trồng thủy sản, cung cấp nước ngọt, dầu diesel, thực phẩm, sửa chữa máy tàu… cho ngư dân. Trong tương lai, với năng lượng gió, mặt trời ổn định, đảo sẽ mở ra nhiều dịch vụ tiện ích khác như thu mua, chế biến hải sản tại chỗ, sản xuất nước đá…”. Hàng năm, âu tàu đón nhận hàng trăm lượt tàu thuyền của ngư dân trong nước đến trú ngụ, tránh áp thấp nhiệt đới, bão và còn có thể tiến hành duy tu, sửa chữa tàu ngay tại đảo. Không chỉ là nơi tránh bão, âu tàu Song Tử Tây còn là nơi cung cấp nước ngọt miễn phí cho ngư dân, cung cấp dầu máy, lương thực, thực phẩm. Trong năm 2012 và những tháng đầu năm 2013, đảo đã khám và cấp thuốc cho trên 1.500 lượt quân, dân; thực hiện cấp cứu và phẫu thuật cho hàng trăm ngư dân của các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa… Đặc biệt cứu hộ nhiều tài sản, phương tiện có giá trị của các tàu cá bị nạn và hỗ trợ quần áo, lương thực, thuốc men, nước ngọt cho hàng trăm ngư dân gặp nạn trên biển.

 

 

Âu thuyền trên đảo Song Tử Tây

 

Bác sĩ Phạm Văn Phú, Bệnh viện 108 Trung ương tăng cường cho đảo Song Tử Tây, cho biết, với thiết bị y tế hiện có, đội ngũ bác sĩ trên đảo sẽ thực hiện tốt các ca cấp cứu mổ dạ dày, ruột thừa, khâu các vết thương, bó bột… Hiện mỗi năm Trạm xá đảo Song Tử Tây đã cấp cứu, chữa bệnh cho khoảng 300 người, trong đó đa phần là ngư dân đi biển. Với ngư dân, đánh cá xa bờ đồng nghĩa với việc có nhiều khó khăn, nguy nan luôn chực chờ. Trường Sa chính là phao cứu sinh vững chãi cho ngư dân, giúp họ vượt qua những gian khó. Từ cuối năm 2008 đến nay, cán bộ, nhân viên của Đội dịch vụ âu tàu Song Tử Tây, thuộc Công ty 128 Hải quân, đã ra đây cắm chốt. Họ bắt tay sửa sang nơi ăn, chốn ở, trồng cây xanh; tiếp nhận xăng, dầu, nhiên liệu để bổ sung, tiếp tế cho tàu đánh cá, tàu làm nhiệm vụ ở khu vực biển Trường Sa. Họ và âu tàu Song Tử Tây chính là những điểm tựa vững chắc nơi đảo xa, giúp ngư dân yên tâm bám biển. 

 

Nhưng không chỉ vậy. Ở Trường Sa còn có những ngôi chùa. Theo Đại đức Thích Nguyên Thanh, sự có mặt của những ngôi chùa trên quần đảo Trường Sa là một điều tất yếu khách quan trong cộng đồng dân cư. Ở đâu có người dân, ở đó có cuộc sống tâm linh hướng thiện, mà chùa là biểu hiện của cuộc sống tâm linh hướng thiện ấy.

 


Cũng như hai ngôi chùa khác trên quần đảo Trường Sa, chùa Song Tử Tây được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống với kết cấu một gian, hai chái, mái cong.

 

Giữa biển Đông trên Thị trấn Trường Sa, hàng ngày tiếng chuông chùa vang lên cùng sóng biển. Tại đây hiện có ba ngôi chùa nằm trên đảo Song Tử Tây, Trường Sa Lớn và Sinh Tồn. Điều đặc biệt cả ba ngôi chùa đều hướng về Thủ đô Hà Nội. Đó là hình ảnh biểu hiện cho cốt cách của văn hóa Việt Nam vùng biển đảo. Sắp tới, những ngôi chùa này sẽ có trong sách “Chùa Việt Nam”, được dịch ra 5 thứ tiếng và xuất bản trên toàn thế giới. Đại đức Thích Nguyên Thanh, Trụ trì chùa Hang – Thái Nguyên đã ra quần đảo Trường Sa để lấy tư liệu của những ngôi chùa ở các đảo để đưa vào sách “Chùa Việt Nam”, bởi những ngôi chùa ở quần đảo Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống chùa Việt Nam.

 

Khác với chùa Song Tử Tây, chùa Sinh Tồn nằm cạnh những hộ dân sống trên đảo Sinh Tồn. Với người dân ở đây, ngôi chùa được xem là nơi luôn có sự bình an, thanh tịnh, niềm tin và hy vọng, mang lại sự gần gũi của đất mẹ thân yêu. Kể từ khi ngôi chùa được trùng tu, xây dựng, những người dân ở đảo Song Tử Tây và trẻ em hàng ngày ra chơi dưới bóng mát của chùa.

 

Tại chùa Trường Sa Lớn, Sinh Tồn hay Song Tử Tây, các hoành phi, câu đối đều sơn son thếp vàng, viết bằng chữ Quốc ngữ.

Vậy đó, Trường Sa hôm nay đã, đang và dần hiển hiện trong tâm thức người Việt với cuộc sống, sinh hoạt, giải trí, làm việc, tâm linh…đều mang đậm chất Việt Nam…

 

Bùi Minh Trường
DanQuyen.com
    Phản Hồi Của Độc Giả Về Bài Viết
Họ và Tên
Địa chỉ
Email
Tiêu đề
Nội dung
Gửi cho bạn bè Phản hồi

Các bài viết mới:
    Một góc nhìn về tự do tôn giáo Việt Nam 2013 (19-01-2014)
    Tự do Internet tại Việt Nam (19-01-2014)

Các bài viết cũ:
    Trận chiến Hoàng Sa: Sứ mạng oai hùng và bi tráng của Hộ tống hạm Nhật Tảo (19-01-2014)
    Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Chờ đợi điều gì phía trước? (19-01-2014)
    Người Việt xa xứ và việc gìn giữ tiếng Việt tại Hoa Kỳ (19-01-2014)
    Thị trường việt nam năm 2014 thách thức hay cơ hội?. (19-01-2014)
    Hình tượng con ngựa trong văn hóa phương Đông và phương Tây (19-01-2014)
    Chuyện nước ở vùng biên ải (19-01-2014)
    Những nước cờ biển đông năm 2013: Khởi đầu cho những đột phá? (19-01-2014)
    Tổng quan tình hình thế giới 2013 (18-01-2014)
    Lá thư Chủ nhiệm (13-01-2014)
    CHÚ HOẢ: ĐÒN GÁNH TRE CHÍN DẠN HAI VAI (30-01-2012)
    Kinh tế Việt Nam 2012: Bức tranh tươi sáng  (30-01-2012)
    Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Đã đến thời nồng ấm? (30-01-2012)
    Thương nhớ chợ tình (30-01-2012)
    Câu chuyện cuối năm (30-01-2012)
    Lá thư Chủ nhiệm (29-01-2012)
    Sinh thức Nguyễn Trãi (29-01-2012)
    TINH THẦN DUY LÝ DÂN TỘC (09-02-2011)
    10 SỰ KIỆN QUỐC NỘI BỔI BẬT NĂM 2010 (08-02-2011)
    ẨM THỰC TỪ QUÊ RA PHỐ (08-02-2011)
    Thịt Mỡ Dưa Hành, Bánh Chưng Xanh  (08-02-2011)
 
"Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam".

Chuyển Tiếng Việt


    Truyện Ngắn
À! Chuyện Chiêm Bao


   Sự Kiện

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn





 

Copyright © 2010 DanQuyen.com - Cơ Quan Ngôn Luận Người Việt Hải Ngoại
Địa Chỉ Liên Lạc Thư Tín:
E-mail: danquyennews@aol.com
Lượt Truy Cập : 178011168.