Trang nhất
  Xã Luận
  Đọc Báo Trong Nước
  Truyện Ngắn
  Kinh Tế
  Âm vang sử Việt
  Tin Thể Thao
  Y Học
  Tâm lý - Xã hội
  Công Nghệ
  Ẩm Thực

    Diễn Đàn Biển Đông
Phản đối mạnh mẽ mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
    Hình Ảnh Quê Nhà - Video Clip
Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới
    Tin Thế Giới
Quân đội Iran công bố quyết định bất ngờ sau tuyên bố tiến hành 'một tuần tấn công liên tục'
    Tin Việt Nam
Việt Nam - Thái Lan hướng tới mốc thương mại 50 tỷ USD
    Tin Cộng Đồng
Chưa ghi nhận thương vong về người Việt trong trận động đất ở Philippines
    Tin Hoa Kỳ
Mỹ cải tổ hệ thống hải quan, siết chặt quản lý hoạt động nhập khẩu
    Văn Nghệ
Tìm kiếm thực lực kế thừa cải lương
    Điện Ảnh
TP Hồ Chí Minh quyết tâm xây dựng 'Thành phố điện ảnh' qua liên hoan phim
    Âm Nhạc
Lizzo đáp trả cáo buộc 'nói xấu' Taylor Swift
    Văn Học
Nhà nghiên cứu sẽ bị cấm vô thời hạn nếu đạo văn, dùng dữ liệu giả

Thông Tin Tòa Soạn

Tổng biên tập:
Tiến Sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt
Phụ Tá Tổng Biên Tập
Tiến Sĩ
Nhật Khánh Thy Nguyễn
Tổng Thư ký:
Quách Y Lành




   
Những biến cố năm Mão trong lịch sử
Trong hơn 4.000 năm lịch sử quốc nội đã xảy nhiều biến cố trọng đại. Kết thúc năm Dần, chào đón năm Mão, Ban Biên Tập Dân Quyền xin điểm lại một số sự kiện xảy ra vào các năm Mão trong lịch sử.

 


Năm 43 (Quý Mão): Hai Bà Trưng hy sinh




Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai nữ anh hùng dân tộc đầu tiên của Việt Nam, xuất thân từ dòng dõi lạc tướng (người đứng đầu bộ lạc) đất Mê Linh thời Hùng Vương. Sử sách chép rằng hai bà là chị em sinh đôi và sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất (năm 14 sau công nguyên). Chồng Trưng Trắc là Thi Sách cũng xuất thân dòng dõi lạc tướng Chu Diên (miền đất dọc sông Đáy). Năm 40, nhân việc Thái thú Tô Định giết hại Thi Sách, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ của nhà Hán:




“Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kêu oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này”




Cuộc khởi nghĩa quy tụ sức mạnh đông đảo toàn dân, trong đó có các nữ tướng Thánh Thiên, Lê Chân, Bát Nàn, Thiều Hoa... và nổ ra không chỉ ở các vùng đất thuộc Việt Nam ngày nay mà cả đất Hợp Phố (Quảng Đông, Trung Quốc). Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã đánh tan quân Hán, được suy tôn làm vua và cai trị đất nước trong ba năm.




Sau đó, nhà Hán sai lão tướng Phục Ba và tướng Mã Viện cầm đầu đại quân sang tái xâm lược. Quân địch có quân số đông, có thủy bộ phối hợp, lại thạo đánh tập trung theo kiểu trận địa. Đối đầu với lão tướng dày dặn kinh nghiệm chiến trường, đội quân mới nhóm họp, thiếu trang bị và kinh nghiệm tổ chức chiến đấu của Hai Bà Trưng Quân bị thiệt hại nặng. Hai Bà Trưng phải lui binh song bị Mã Viện đem quân vượt sông Hồng đuổi theo. Quân Hán bao vây Cấm Khê. Tại đây đã diễn ra nhiều trận chiến đấu ác liệt giữa hai bên. Mùa hè năm Quý Mão 43, Hai Bà Trưng đã hy sinh anh dũng để lại tấm gương oanh liệt nghìn thu. Hiện nay ở nhiều địa phương trong cả nước có đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà.




547 (Đinh Mão): Triệu Quan Phục đóng quân ở đầm Dạ Trạch, khôi phục giang sơn


 

Đạo binh của Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch.

Lý Nam Đế trước khi mất giao tất cả quyền bính cho Tả Tướng Triệu Quang Phục. Năm 547, nhận thấy quân nhà Lương còn hùng mạnh, khó đương đầu trong lúc thế lực còn yếu kém, Triệu Quang Phục đem một vạn quân kéo về vùng đầm lầy Dạ Trạch (Hưng Yên). Dạ Trạch là một vùng đầm lầy ven sông Hồng, rộng mênh mông, lau sậy mọc um tùm, ở giữa là bãi bồi phù sa rộng, địa hình nguy hiểm. Ngày ngày, quân sĩ vừa luyện tập vừa cuốc ruộng, phá bờ, trồng hoa  màu, ban đêm thì đi thuyền độc mộc ra đánh úp trại giặc, cướp lương thực. Quân giặc nhiều lần tiến đánh nhưng đều thất bại:




“Giữa đầm Dạ Trạch xưng vương

Ba quân cứ hiểm, một phương tranh hùng

Bớ lau xanh ngát trùng trùng

Đường quanh nẻo tắt, nước bùn gần xa.

Cởi thuyền độc mộc xông pha

Mặc lòng quân Việt, vào ra đêm ngày”




Năm 548, ông xưng vương, đặt hiệu Triệu Việt Vương, dân gian tôn vinh ông là Dạ Trạch Vương (Vua đầm đêm). Năm 550, gặp lúc nhà Lương gặp loạn, Triệu Việt Vương đem quân đánh tan quân giặc và tiến về thành Long Biên. Sau khi ổn định được tình thế, ông thiết lập lại triều chính, khôi phục lại giang sơn mà Lý Nam Đế rút lui trước sự xâm lăng của quân nhà Lương. 




Năm Tân Mão (571), sau một thời gian giao hảo, Lý Phật Tử -  một người họ hàng của Lý Nam Đế-  bất thình lình đem quân đánh Triệu Việt Vương. Ông thua chạy đến sông Đại Nha (nay thuộc tỉnh Nam Định) và tự vẫn. Sách xưa luận rằng vì Triệu Việt Vương không muốn mang tiếng soán đoạt ngôi báu của nhà Tiền Lý nên khi Lý Phật Tử ngỏ lời giao hảo, Triệu Việt Vương thuận tình cho tròn đạo nghĩa công thần với Lý Nam Đế. Lý Phật Tử đánh thắng Triệu Việt Vương không phải vì tài ba dũng lược mà vì âm mưu với người thân để nắm cơ hội thuận lợi. Sau này, khi nghe quân nhà Tùy hùng mạnh xâm lăng, Lý Phật Tử đã bán nước để yên thân, cam chịu ách thống trị của Bắc phương mà tiền nhân đã dày công khôi phục.




Năm 907 (Đinh Mão): Khúc Thừa Dụ mất, Khúc Hạo lên ngôi

Khúc Thừa Dụ chiếm thành Đại La, xưng nền tự chủ.




Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ là người mở đầu chính sách ngoại giao khôn khéo của người Việt trong ứng xử với triều đình phong kiến phương Bắc: "độc lập thật sự, thần thuộc trên danh nghĩa". Tuy là một chức quan của nhà Đường, nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ bãi bỏ quan lại chế độ cũ kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc. Khúc Thừa Dụ phong cho con là Khúc Hạo chức vụ "Tĩnh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu" giữ toàn quyền chỉ huy quân đội và nắm quyền hành Tiết độ sứ khi ông mất.

Khúc Thừa Dụ nắm quyền được một năm thì mất, Khúc Hạo lên thay. Ngày 1/9/907, nhà Hậu Lương, lúc này đã thay thế nhà Đường ở Trung Quốc cũng phải công nhận Khúc Hạo là "An Nam đô hộ, sung Tiết độ sứ". Là nhà cải cách và tổ chức quản lý giỏi, Khúc Hạo đã chia đặt lại các lộ, phủ, châu, giáp và xã ở các xứ, chú trọng cấp hành chính ở cơ sở. Về mặt quản lý, ông chủ trương bình quân thuế ruộng, bỏ lao dịch, lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi, lấy “khoan, giản, an, lạc” (khoan dung, giản dị, yên ổn, vui vẻ) làm phương châm cai trị đất nước.




Năm 931 (Tân Mão): Khởi nghĩa Dương Đình Nghệ chống quân Nam Hán thắng lợi




Năm 917, Lưu Nham ở đất Quảng Châu (Trung Quốc) tự xưng là hoàng đế, đặt tên nước là Hán, tức Nam Hán. Năm 930, Nam Hán tái chiếm đất Việt lúc này đang thuộc quyền cai trị của họ Khúc. Nhân dân ta ở các địa phương dưới sự lãnh đạo của các hào trưởng đã nổi dậy chống quân Nam Hán.




Năm Tân Mão 931, được sự ủng hộ của nhân dân và hào kiệt các vùng như Ngô Quyền, Đinh Công Trứ … Dương Đình Nghệ từ Thanh Hóa tiến công thành Đại La - dinh lũy của quân xâm lược Nam Hán. Nhà Nam Hán sai thừa chỉ Trình Bảo đem quân sang cứu viện. Viện binh chưa kịp đến thì Dương Đình Nghệ đã chiếm xong Đại La, giết chết tướng giặc Khắc Trinh. Sau đó, Dương Đình Nghệ giao chiến với quân cứu viện Nam Hán ở ngoài thành Đại La, giết chết Trình Bảo, phá tan quân Nam Hán.




Cuộc kháng chiến thắng lợi của nhân dân ta do Dương Đình Nghệ lãnh đạo đã đánh bại âm mưu chiếm lại nước ta của nhà Nam Hán. Đất nước độc lập, tự chủ tiếp tục được giữ vững. Tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc, Dương Đình Nghệ bắt tay vào xây dựng chính quyền độc lập tự chủ, tự xưng là tiết độ sứĐinh Công Trứ được cử giữ chức thứ sử Hoan Châu.




967 (Đinh Mão): Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân

Đền Thờ vua Đinh tại Ninh Bình.




36 năm sau chiến thắng của Dương Đình Nghệ, cũng vào năm Mão đã xảy ra một sự kiện nổi tiếng bực nhất trong lịch sử Việt Nam: Đinh Bộ Lĩnh đánh tan 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Loạn 12 sứ quân là giai đoạn loạn lạc của lịch sử Việt Nam (945-967), xảy ra kể từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh xướng lên độc lập, xưng là sứ quân và đi đánh chiếm lẫn nhau, làm cho đời sống nhân dân cực khổ. 




Đinh Bộ Lĩnh là con trai của thứ sử Đinh Công Trứ, quê ở Ninh Bình. Từ nhỏ đã có chí lớn và tài lãnh đạo nên được nhiều người kính nể. Ông có cách đánh linh hoạt, tùy thực trạng mỗi sứ quân mà tìm cách đánh thích hợp, hoặc bằng quân sự, hoặc bằng liên kết, hay dùng mưu dụ hàng. Đinh Bộ Lĩnh đã liên kết với sứ quân Trần Lãm - một trong những sứ quân mạnh về kinh tế, lại chiếm giữ vùng đất quan trọng Bố Hải khẩu (cửa biển, nay là tỉnh Thái Bình) - khởi nghĩa dẹp loạn. Được sự ủng hộ của nhân dân, ông đánh đâu thắng đó, nên được gọi là vạn Thắng vương. Đến năm 967, nghĩa quân của Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân.




Ông lên ngôi vua năm 968, tự xưng là hoàng đế (thường gọi là Đinh Tiên Hoàng), lấy niên hiệu là Thái Bình, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), xây dựng triều chính, mở đầu triều Đinh.




Vì công lao của Đinh Bộ Lĩnh, nhà sử học Lê Văn Hưu viết trong “Đại Việt sử ký toàn thư” như sau: "Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết...”




Năm Ất Mão (1075): Nhà Lý mở khoa thi chọn người tài đầu tiên trong lịch sử




Văn Miếu Quốc Tử Giám là một khu di tích lịch sử văn hoá lớn ở trung tâm Hà Nội, là biểu tượng của nền giáo dục, khoa cử Việt Nam. Đặc biệt, mỗi khi xuân về du khách thập phương đến thăm quan, hành hương rất đông; học sinh, sinh viên đến xin chữ cầu học hành tấn tới.




Xưa kia, nhà Lý rất quan tâm tới việc tổ chức thi cử để lựa chọn nhân tài mà các triều đại trước đó chưa thực hiện. Tháng 2 năm Ất Mão 1075, Vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi tam giáo đầu tiên để chọn người tài làm quan, gọi là thi Minh kinh bác học. Thi tam giáo là thi xét những người thông hiểu cả đạo Nho, đạo Giáo và đạo Phật. Ông Lê Văn Thịnh người làng Báo Tháp (tỉnh Bắc Ninh ngày nay) đỗ đầu cùng hơn 10 người trúng tuyển. Ông là tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam. Vị thủ khoa này ngày sau làm đến chức Thái sư - một chức quan to vào bậc nhất trong triều.

Sĩ tử ngày xưa.




Việc mở khoa thi đã đánh dấu mốc về việc nhà Lý chính thức tuyển người theo Nho giáo làm quan bên cạnh tầng lớp quan lại thiên về kiến thức Phật giáo trước đó. 




1483 (Quý Mão): Biên soạn và ban hành bộ luật Hồng Đức




Một trong những bộ luật nổi tiếng hàng đầu Việt Nam trong lịch sử là luật Hồng Đức. Trong việc trị nước, bên cạnh lễ giáo, các vua thời Lê sơ rất chú trọng đến việc chế định pháp luật. Thời Hồng Đức, Lê Thánh Tông đã cho ban hành bộ luật thành văn hoàn chỉnh, gồm 722 điều, được gọi là “Quốc triều hình luật” hay là “Bộ luật Hồng Đức”.




Về hình thức, đó là bộ luật hình sự nhưng thực chất là bộ luật tổng hợp, có các điều khoản về điền sản, dân sự, hôn nhân, gia đình… Nội dung cơ bản của bộ luật là: Giữ cho đất nước luôn ở thế phòng bị đối với quan xâm lược nước ngoài; giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội; mở rộng giao lưu khuyến khích thương nghiệp lành mạnh; bảo vệ quyền sở hữu tài sản của muôn dân, bảo vệ quyền lợi tài sản của dân chống lại sự đục khoét của quan lại sâu mọt; khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục; bênh vực và bảo vệ quyền lợi phụ nữ; chính sách hình sự nghiêm nhưng độ lượng.




Đáng chú ý, luật Hồng Đức có một số điều quy định rõ trách nhiệm bảo vệ đường biên, vùng biển, cửa quan. Các hành vi xâm phạm an ninh và toàn vẹn lãnh thổ bị trừng trị nghiêm khắc. Ví dụ: "Người chốn qua cửa quan ra khỏi biên giới đi sang nước khác thì bị chém" hoặc "những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho người nước ngoài thì bị chém". 

Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Mục tiêu hàng đầu là để bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo.




1771 (Tân Mão): Tây Sơn nổi dậy chống chúa Nguyễn




Tây Sơn là cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Anh em Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) vốn người họ Hồ. Khoảng nǎm 1653-1657, ông tổ của Tây Sơn bị quân chúa Nguyễn đày đến sinh sống tại ấp Tây Sơn (Bình Định), từ đó đổi thành họ Nguyễn.




Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777), quyền thần Trương Phúc Loan lấn lướt, gây bất mãn trong dân chúng. Năm Tân Mão 1771, ba anh em Tây Sơn lên vùng Tây Sơn Thượng Đạo (thuộc tỉnh Gia Lai) tập hợp lực lượng, nêu khẩu hiệu "lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan." Đầu 1773, nghĩa quân đánh chiếm thành phủ Quy Nhơn. Cuối 1774, quân Tây Sơn giải phóng phủ Quảng Ngãi, tiến ra Quảng Nam. Đầu 1775, quân Tây Sơn hoà hoãn với chúa Trịnh để tập trung lực lượng tiêu diệt quân Nguyễn. Chúa Nguyễn phải cầu cứu nhà Xiêm (Thái Lan). Năm 1785, Tây Sơn đánh tan 5 vạn quân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút danh tiếng. Giữa 1786, Tây Sơn tiến ra Bắc tiêu diệt họ Trịnh, trao lại quyền cho vua Lê Chiêu Thống.






Chiến thuyền Tây Sơn trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút.




Khi cơ bản chinh phục được họ Nguyễn, tăng cường sức mạnh và uy thế, năm 1778, sau khi giết được Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Nhạc xưng vua, lập triều đại Tây Sơn, đặt niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại Quy Nhơn.




1819 (Kỷ Mão): Vua Gia Long qua đời




Gia Long hoàng đế tên thật là Nguyễn Phước Ánh, sinh nǎm 1762. Khi cơ nghiệp họ Nguyễn suy sụp, Nguyễn Ánh trốn ra đảo Thổ Chu, mưu đồ khôi phục. Nǎm 18 tuổi, ông xưng vương, dốc sức cự lại quân Tây Sơn nhưng liên tiếp bị thất bại. Hai lần chạy trốn ra đảo Phú Quốc, một lần chạy sang Xiêm, nhưng nhờ chí kiên trì mà cuối cùng được thắng lợi. Nǎm 1802 Nguyễn Phước Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long, đặt tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh sợ lẫn với nước của Triệu Đà ngày xưa nên đổi là Việt Nam.




Gia Long hoàng đế.




Nguyễn Ánh chú trọng thiết lập quan hệ với các nước láng giềng, củng cố pháp luật, chấn hưng vǎn hóa, phát huy truyền thống. Để tránh lộng quyền, nhà vua đã bãi bỏ chức vụ tể tướng; không lập ngôi Hoàng hậu, chỉ có Hoàng phi và các cung tần. Thời Gia Long, công cuộc khai hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long được đẩy mạnh, khối lượng đê, kè… được đắp nhiều nhất so với các triều trước.




Gia Long làm được nhiều nhưng cũng để lại nhiều tai tiếng vì đối xử không tốt với công thần và thẳng tay đàn áp kẻ thù. Khi lên ngôi, Gia Long đã trả thù dòng họ Tây Sơn với tuyên bố: "Trẫm vì chín đời mà trả thù". Sự tàn bạo của Gia Long đã biến ông thành kẻ tầm thường, không xứng đáng với một ông vua sáng lập ra triều đại nhà Nguyễn. Nǎm Kỷ Mão 1819, Gia Long mất, thọ 59 tuổi, ở ngôi chúa 25 nǎm, làm vua trong 18 nǎm.

 

DanQuyen.com
    Phản Hồi Của Độc Giả Về Bài Viết
Họ và Tên
Địa chỉ
Email
Tiêu đề
Nội dung
Gửi cho bạn bè Phản hồi

Các bài viết mới:
    Một góc nhìn về tự do tôn giáo Việt Nam 2013 (19-01-2014)
    Tự do Internet tại Việt Nam (19-01-2014)
    Tay súng, tay cày trên biển đảo quê hương (19-01-2014)
    Trận chiến Hoàng Sa: Sứ mạng oai hùng và bi tráng của Hộ tống hạm Nhật Tảo (19-01-2014)
    Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Chờ đợi điều gì phía trước? (19-01-2014)
    Người Việt xa xứ và việc gìn giữ tiếng Việt tại Hoa Kỳ (19-01-2014)
    Thị trường việt nam năm 2014 thách thức hay cơ hội?. (19-01-2014)
    Hình tượng con ngựa trong văn hóa phương Đông và phương Tây (19-01-2014)
    Chuyện nước ở vùng biên ải (19-01-2014)
    Những nước cờ biển đông năm 2013: Khởi đầu cho những đột phá? (19-01-2014)
    Tổng quan tình hình thế giới 2013 (18-01-2014)
    Lá thư Chủ nhiệm (13-01-2014)
    CHÚ HOẢ: ĐÒN GÁNH TRE CHÍN DẠN HAI VAI (30-01-2012)
    Kinh tế Việt Nam 2012: Bức tranh tươi sáng  (30-01-2012)
    Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Đã đến thời nồng ấm? (30-01-2012)
    Thương nhớ chợ tình (30-01-2012)
    Câu chuyện cuối năm (30-01-2012)
    Lá thư Chủ nhiệm (29-01-2012)
    Sinh thức Nguyễn Trãi (29-01-2012)
    TINH THẦN DUY LÝ DÂN TỘC (09-02-2011)

Các bài viết cũ:
    Gìn giữ bản sắc Việt tại Hoa Kỳ (08-02-2011)
    Tào lao thế giới - Buồn vui một năm Dần (08-02-2011)
    Một năm thất bại (08-02-2011)
    Lá Thư Chủ Nhiệm (08-02-2011)
 
"Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam".

Chuyển Tiếng Việt


    Truyện Ngắn
À! Chuyện Chiêm Bao


   Sự Kiện

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn





 

Copyright © 2010 DanQuyen.com - Cơ Quan Ngôn Luận Người Việt Hải Ngoại
Địa Chỉ Liên Lạc Thư Tín:
E-mail: danquyennews@aol.com
Lượt Truy Cập : 178011013.