|
|
Người Hà Nội vốn nổi tiếng sành ăn, sành mặc. Nét đẹp của Hà
Nội thể hiện ngay cả trong tục dùng trầu - một phong tục mà theo
truyền thuyết có từ thời Hùng Vương dựng nước (qua sự tích Trầu
Cau mà người Việt Nam hầu như ai cũng biết).

Trước kia, người Hà Nội từ 13 tuổi trở lên là biết ăn trầu.
Theo sứ giả nhà Nguyên vào đời Trần, ở Thăng Long, 61 phố phường
đều trồng rất nhiều cau và trầu không. Người Hà Nội trước đây có
câu:
Mua vôi chợ
Quán, chợ cầu
Mua cau Nam Phố,
mua trầu chợ Dinh
Chợ Cầu, chợ Quán là các chợ lẻ, chợ phụ dọc đường, Nam Phố
là tên cũ của phố Hàng Bè bây giờ, nơi xưa bán rất nhiều cau
tươi, cau khô. Chợ Dinh gần dinh quan phủ Phụng Thiên (quăng phố
Phủ Doăn và Ngơ Huyện bây giờ). Ngày nay, người Hà Nội ít ăn
trầu hơn trước nên không c̣n những phố bán trầu mà tập trung
phần lớn ở những chợ một số ít được đem bán rong. Người Hà Nội
rất công phu trong cách chọn trầu. Cau ngon phải là cau bánh tẻ,
không già, không non, vừa tới hạt (nửa màu, nửa hạt). Người sành
ăn thường kén mua cau Đông ở tỉnh Hải Hưng (cũ). Từ tháng 8 có
thêm cau miền Nam nhưng người ta ít ăn v́ loại cau này nhiều hạt
không ngon. Mua trầu phải chọn lá hơi ánh vàng, nhỏ, dày, tươi.
Ngày trước có trầu không làng Chả ngon nổi tiếng v́ lá nhỏ, vừa
thơm vừa cay, để có được lá trầu như vậy người làng Chả ngày đó
trồng trầu cũng rất công phu, dàn trầu không phải được trồng
trên đất trồng gừng. Ngày nay người Hà Nội ăn trầu Hưng Yên, vào
dịp lễ hỏi người ta mua trầu Tây Sơn v́ lá to đẹp. Người sành ăn
trầu chọn vôi xứ Đoài - Sơn Tây.

Miếng trầu là
đầu câu chuyện (Ảnh Bill Gates thăm Việt Nam)
Bộ đồ ăn trầu của người Hà Nội gồm có: cơi đựng trầu bằng
đồng hoặc quả trầu sơn khảm xà cừ, ống vôi chạm bạc, ống nhổ
bằng đồng thau đựng quết trầu. Những cụ già ăn trầu c̣n có thêm
cối giă trầu bằng đồng chạm trổ khá tinh vi chỉ bỏ vừa miếng
trầu, miếng cau, vỏ để giă. Dao bổ cau phải sắc để bổ cau cho
đẹp và hạt không bị vỡ. Cũng chỉ là "Quả cau nho nhỏ, lá trầu
xanh" nhưng cách ăn trầu của người Hà Nội rất duyên dáng, họ ăn
trầu không những làm đỏ môi, răng đen mà c̣n tạo nét môi cắn chỉ
rất đẹp, Người ta không cho cả cau, trầu và rễ vào cùng một lúc
mà ăn từng thứ một. Cau được nhai dập mới cho trầu vào và sau
cùng là rễ quệt thêm một ít vôi, khi ăn người ta thường lấy tay
quệt ngang miệng, lâu dần tạo thành nét môi cắn chỉ. Người xưa
ăn trầu c̣n là để bảo vệ hàm răng của ḿnh, chất chát của trầu
cau làm cho lợi răng co lại ôm sát lấy chân răng, làm hàm răng
cứng chặt lại không lung lay. C̣n trong y học cổ truyền người
Việt Nam xưa đă dùng trầu cau như một thứ thuốc chống bệnh sốt
rét rừng một khi vào rừng sâu săn bắn hoặc xuống biển ṃ ngọc
trai, săn bắt đồi mồi...

Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung xưa kia
coi việc têm trầu là một nghệ thuật. Qua cử chỉ têm trầu, ăn
trầu để phán đoán phong cách, tính nết cũng như nếp sống của con
người. Chính v́ lẽ đó, khi đi xem mặt nàng dâu tương lai, nhà
trai đ̣i bằng được cô gái ra têm trầu, trước là để xem mặt cô
dâu, sau là để xem cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán đoán tính
nết. Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay; miếng trầu
nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng
trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa...
Ngày nay, ở Hà Nội hầu như chỉ những người trên 60 tuổi mới
ăn trầu cho nên Hà Nội không c̣n cảnh mời trầu như A.de Rovodes
- một người Pháp nói về việc ăn trầu của người Thăng Long thế kỷ
XII: "Họ có tục đem theo một vài túi con đầy trầu cau đeo ở thắt
lưng, họ để mở trong khi qua lại phố phường để mời bạn bè. Khi
gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau, rồi mỗi người lấy ở trong túi của
bạn một miếng trầu để ăn". Tuy nhiên, quan niệm "miếng trầu là
đầu câu chuyện" của người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói
chung vẫn được áp dụng ở những dịp hiếu, hỉ. Ngày Rằm, mồng Một
hoặc các ngày lễ Tết hoặc trong những dịp lễ ăn hỏi, cưới xin
của các gia đ́nh Việt Nam vẫn không thể thiếu miếng trầu quả cau
trên bàn thờ tổ tiên.
Trầu cau chỉ
là một thứ nhai chơi, tuy đơn sơ nhưng lại có nhiều ư nghĩa trên
lĩnh vực y học, tâm lư xă hội... dùng trầu cau c̣n là một truyền
thống văn hoá của dân tộc. Ngày nay, không mấy ai ăn trầu nhưng
nét đẹp đó vẫn được ǵn giữ và áp dụng trong cuộc sống của người
dân. |
|