|
|
Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được h́nh thành trên cơ sở của
nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn
bó mật thiết với xóm làng, quê hương. Làng có nhiều tên gọi khác
nhau trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc (kẻ chạ, làng trong tiếng Việt ;
chiềng trong tiếng Tày – Thái ; bản trong tiếng Mường ; buôn
play trong tiếng của một số dân tộc ở Tây Nguyên...). |
 |
|
|
|
Trong xă hội Việt Nam, dân cư tụ hội thành làng xă ở nơi đồng ruộng
và phường, hội ở nơi thành thị. Làng và phường đă ra đời ngay từ
những buổi đầu trứng nước của dân tộc. Dần dà, các tổ chức này
ngày càng ổn định và chặt chẽ hơn.
Trên cơ sở đồng ḷng nhất trí, ở làng có luật của làng, gọi là
hương ước, thợ thủ công ở các xóm nghề, phố nghề th́ có phường ước.
Tinh thần then chốt của những hương ước, phường ước xuất phát từ
thuần phong mỹ tục của làng, phường, là những cụ thể hoá phong
phú sinh động nằm trong khuôn khổ của luật pháp quốc gia.
Trong mỗi kư ức của người Việt nam có lẽ không bao giờ phai mờ
h́nh ảnh cây đa, giếng nước, mái đ́nh, con sông, bến đ̣, cánh đồng
c̣ bay. H́nh ảnh những ngày hội làng giữa sân đ́nh, cờ xí rợp trời
cùng tiếng trống, chiêng rộn ră đă trở thành một phần của t́nh
yêu quê hương đất nước của người Việt Nam.
|
|