|
|
Đến khi người Việt cổ bắt đầu sống định cư và
trồng trọt, họ dần dần cảm thấy sức mạnh của ḿnh tác động đến
tự nhiên, muôn loài, muôn thú. Thuần dưỡng được thú rừng thành
thú nhà, buộc cây dại trở thành cây trồng, đó là một niềm vinh
dự lớn mà con người cảm thấy sâu sắc và t́m cách giải thích. Đó
chính là thần thoại được nhân dân các làng chạ sáng tác, ǵn giữ
và lưu truyền qua các thế hệ, dưới h́nh thức truyện kể dân gian.
Trong những ngày hội, đám cưới, đám tang...thần thoại Việt cổ
được diễn xướng trọng thể như ngày nay người Mường, người Thái,
người Tây Nguyên diễn xướng sử thi hay trường ca của họ.
BUỔI KHAI MẠC CỦA VŨ TRỤ : TỪ THẦN TRỤ
TRỜI ĐẾN CHÚ CUỘI CUNG TRĂNG
Quan tâm đến thế giới tự nhiên để đấu tranh, khai
thác và lợi dụng tự nhiên, con người thời Hùng Vương nhắc lại và
kể thêm vào những truyện mà các thế hệ trước đó đă truyền lại.
Đó là những truyện về nguồn gốc trời đất và muôn loài, về buổi
khai mạc của vũ trụ : truyện về thần trụ trời, thần xây núi,
thần trồng cây, thần đào sông, thần làm sao, thần tát biển...như
câu hát c̣n ghi lại :
...Ông Đếm cát / Ông Tát bể
Ông
Kể sao / Ông Đào sông
Ông
Trồng cây / Ông Xây núi
Ông
Túi trời / Ông Cời cua
Ông
Lùa chim / Ông T́m sâu
Ông
Xâu cá....
Rồi
đến những câu chuyện : Thần Biển đội lốt một con rùa khổng lồ,
chuyện ông Đực bà Cái (hay ông Đùng bà Đá, ông Cồ bà Cộc) đào
sông xây núi, làm ra đất nước, chuyện mười hai Bà Mụ nặn ra
giống người, chuyện nữ thần Mặt trời và Mặt trăng cho loài người
ánh sáng ban ngày và ban đêm, chuyện tu bổ lại các giống vật,
chuyện chế tạo ra lúa và bông để cho loài người có cái ăn cái
mặc, chuyện Nàng Bân và cơn rét tháng ba, chuyện ả Chức chàng
Ngưu và những sợi tơ trời, chuyện chú Cuội ngồi gốc cây đa ở
cung trăng...

GIA PHẢ HỌ NHÀ THẦN
Trong "gia phả" của họ nhà thần Việt cổ, có những
câu chuyện về thần Sét, thần Nước, thần Gió, thần Mưa, thần Đất,
thần Núi, thần Rắn, thần Lúa, thần Bếp, nữ thần Lửa (Bà Hoả), nữ
thần nghề Mộc, những câu chuyện về anh Cường Bạo (tức là anh Na
Á) gây sự với trời, chuyện Cóc kiện trời, chuyện Cá gáy hoá rồng,
chuyện Nhện làm bộ hạ cho thần Bếp, chuyện thần Đất bị nguời
đánh, chuyện con của thần Nước bị người đốt nhà, chuyện con gái
của thần Nước lấy người đánh cá...
Những chủ đề có sẵn tự thời nguyên thuỷ xa xôi
truyền đến thời Hùng Vương được trí tuệ, t́nh cảm và cuộc sống
con người lúc này đă phát triển cao hơn, tô điểm và tái tạo, làm
cho bớt vẻ thô thiển mà trở thành những
thần
thoại về nguồn gốc giống ṇi, tổ tiên, về kỳ tích văn hoá và anh
hùng văn hoá.
H́nh ảnh và vai tṛ của con người ngày càng rơ
nét. Đă đến lúc con người t́m cách giải thích sự nghiệp sáng tạo
khai phá của chính ḿnh và những vấn đề liên quan đến sự nghiệp
ấy. Con người ca ngợi sức lao động cải tạo thiên nhiên của ḿnh
bằng cách tưởng tượng ra một h́nh tượng
người khổng lồ
có sức đào sông xây núi, dời non lấp biển. Bà Khổng lồ và ông
Khổng lồ làm ra đất (núi) và nước (sông). Đất nước ấy có Chim và
Thuồng luồng ở. Rồi Chim và Thuồng Luồng, vật tổ của người Việt
cổ, được nhân cách hoá thành Mẹ Âu (Âu Cơ) và Bố Rồng (Lạc
Long), đôi vợ chồng khổng lồ đă khai sáng lịch sử dân tộc, đẻ ra
trăm trứng trong cùng một bọc nở thành trăm chàng trai khổng lồ
xinh đẹp. Mẹ và Bố chia đều con đi ở miền núi, miền biển, thành
ra đồng bào Thượng và Kinh bây giờ.
BỐ RỒNG VÀ MẸ ÂU. NHỮNG ANH HÙNG KHAI
SÁNG VĂN HOÁ
Mẹ Âu dạy các con làm nương rẫy, trồng lúa ở ven
núi, trồng mía trồng dâu ở ven sông, đào giếng, dệt vải, ép mật,
thổi cơm, làm bánh. Bày cách làm ăn, truyền nghề khéo cho các
con, mẹ Âu là mẹ của giống ṇi, của đất nước và văn hoá Việt cổ.
Bố Rồng tiêu diệt những con quái vật Ngư tinh, Hồ
tinh, Mộc tinh để cho nhân dân được yên ổn làm ăn. Bố là tượng
trưng cho sức mạnh của cộng đồng Việt cổ đă chinh phục thiên
nhiên và dựng nước trên miền trung du và đồng bằng, tượng trưng
cho tinh thần dũng cảm và ư thức làm chủ đất nước của người Việt
cổ. Mỗi khi gặp khó khăn họ gọi :"Bố ơi, về với chúng con !".
Người Thái có Ải Lậc Cậc, người Tày có Pú Lương Quân cũng là
những anh hùng khổng lồ khai sáng đất nước và văn hoá. Đặc biệt
người Mường c̣n giữ được áng sử thi Đẻ đất Đẻ nước gồm hơn một
vạn câu tả lại nguồn gốc của đất, nước, con người và bản mường
với một hệ thống thần thoại tương tự với hệ thống thần thoại Mẹ
Âu, Bố Rồng.
VUA
HÙNG DỰNG NƯỚC VĂN LANG
Mười tám thế hệ thủ lĩnh bộ lạc Việt cổ, các vua
Hùng cùng các mị (con gái), các lang (con trai) và các con rể đă
cùng nhau cai quản đất Văn Lang gồm nhiều bộ lạc liên minh lại.
Truyền thuyết vùng đất tổ (Vĩnh Phú, Hà Sơn B́nh)
đă kể lại cho chúng ta những câu chuyện đẹp đẽ về Chử Đồng, Mị
Nương, Lang Liêu, An Tiêm...là những nhân vật có ư chí tự lực
cao, tính t́nh hồn nhiên, tâm hồn phóng khoáng, thơ mộng, những
người đă sáng tạo ra của cải làm giàu cho nền văn hoá Việt cổ :
lúa nếp, dưa đỏ, bánh chưng, bánh giầy, bánh ót...
Cầm đầu liên minh các bộ lạc Việt cổ là vua Hùng,
những người đă chuyển dần xă hội từ quyền mẹ sang quyền cha,
những người đă cùng nhân dân giành được những chiến thắng lớn
trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Chung quanh vùng đền Hùng thờ 18 thế hệ thủ lĩnh
tối cao, người già c̣n kể cho chúng ta nghe những chuyện : vua
Hùng chọn đất đóng đô, vua Hùng ra lệnh cho công chúa Bầu chém
đầu con voi bất nghĩa, vua Hùng dạy dân cấy lúa, trồng kê, trồng
khoai lang, rau kiệu, trầu cau, vua Hùng dạy dân săn bằng lưới,
khuyến khích các mị nấu cơm thi, các lang làm bánh trái...Đó là
hệ
thống truyền thuyết về các vua Hùng.
Những kỳ tích chống lũ lụt để bảo vệ mùa màng và
sinh mạng của nhân dân, kỳ tích chống ngoại xâm để bảo vệ địa
bàn sinh tụ và đời sống độc lập của dân tộc thời dựng nước được
kể lại trong hai hệ thống truyền thuyết khác chung quanh những
h́nh tượng hào hùng, đẹp đẽ về ông Tản thắng giặc Nước và ông
Dóng giết giặc Ân .
BẢN ANH HÙNG CA TRỊ THUỶ CỦA ÔNG TẢN (SƠN
TINH)
Ông Tản qua trí tưởng tượng phóng đại của nhân
dân, mang bóng dáng và tầm vóc của Ông Khổng lồ đào sông xây núi,
đứng sừng sững trên đất nước trung du và đồng bằng mênh mông,
bưng ngang những ḍng lũ lớn từ Tây Bắc đổ xuống và ném đi cả
những trái núi to nhất từ vùng Hoà B́nh, Hà Tây đến Vĩnh Phúc,
Phú Thọ, buộc sông Đà và sông Hồng ngoan ngoăn chảy về xuôi.
Trong bản anh hùng ca trị thuỷ đó, sức người, cọc
gỗ, lưới sắt cùng tất cả những kết quả lao động và sáng tạo của
con người Việt cổ đều chiến thắng thiên nhiên. Ông Tản, tượng
trưng cho sức mạnh và tài trị thuỷ của nhân dân, đă quảy núi
ngăn ḍng, chặn đứng mũi tiến công ác liệt của thần Nước. Ông đă
nâng cao mặt đất, cao lên dần, cao lên măi luôn luôn ở trên mức
nước. Ông hướng dẫn nhân dân gánh đất đắp đê, đan phên cạp bờ,
bỏ đá làm kè, thả rong ven sông để chống lại sức công phá của
nước. Nước đánh vỗ vào mặt trước, đánh úp vào mặt sau, từ sông
Đà tới, từ sông Tích lên, từ sông Lô xuống, từ sông Thao về,
nhưng ông Tản, với các bộ tướng : Tuấn Cương, Quế Hoa, Hiển và
Sùng...cùng với nhân dân không mảy may nao núng, ai nấy đều dũng
cảm và quyết chiến. Cuối cùng sau hàng tháng vật lộn, thần nước
đă phải tháo chạy để lại xác chết của nhiều tên bộ hạ gian ác.
Trong việc trị thuỷ của ông Tản không những là
sức mạnh chống lũ lụt mà c̣n là sức mạnh chống hạn hán, ông dạy
dân đào ao, giếng, khơi mương, ng̣i, tuới rau, nuôi cá, thả bèo
; ông c̣n chữa bệnh cứu dân, dạy dân làm ruộng, đi săn, đánh cá,
làm lửa, làm nhà, đào giếng. Vợ ông là mị nương Ngọc Hoa th́
giúp dân trồng dâu chăn tằm, dạy dân ươm tơ dệt lụa , tổ chức
ngày hội rước những tấm lụa the đẹp nhất để hiến dâng vua Hùng.
Câu chuyện tranh chấp t́nh duyên giữa ông Tản (Sơn
Tinh), Thuỷ Tinh, cũng là câu chuyện về những cuộc đua tài, đọ
sức, thi sản phẩm quí : "voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao",
thực chất là những cuộc trao đổi văn hoá giữa các bộ lạc đang tự
nguyện gia nhập vào cộng đồng Việt cổ. Từ đó ông Tản đồng nhất
với Sơn Tinh, một thần tượng tổng hợp sức mạnh của đất và núi mà
người nguyên thuỷ đă hằng tín ngưỡng ở nhiều nơi. Ông Tản cũng
tham gia vào công cuộc chống quân Thục để bảo vệ sự vẹn toàn
lănh thổ Văn Lang, bảo vệ công cuộc thiên di của những bộ tộc đi
từ miền sông biển đến định cư chung quanh núi Ba V́ (Tản Viên)
đối diện với Tam Đảo, 2 ngọn núi tượng trưng cho hùng khí thiêng
liêng của lănh thổ Việt cổ đang mở rộng về phía tây nam. Trong
vùng đất oanh liệt chiến thắng giặc nước ấy, người Mường, người
Thái, người Việt sống đoàn kết với nhau và cùng thờ chung ông
Tản.
Ông
Tản vừa là anh hùng xây dựng đất nước, vừa là anh hùng bảo vệ
đất nước, với tầm vóc vũ trụ, với khí phách ngất trời, một h́nh
tượng biểu hiện sắc nét bản lĩnh của dân tộc ta, cuộc sống và
chiến đấu quyết liệt và lạc quan của nhân dân ta. Sức mạnh và
niềm tin của Ông Tản chính là sức mạnh và niềm tin của người
Việt cổ đă tạc vào sông núi.
NGƯỜI ANH HÙNG LÀNG DÓNG VÀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
Bên cạnh h́nh tượng Mẹ Âu, Bố Rồng, vua Hùng, Ông
Tản, h́nh tượng
Ông Dóng cũng mang tính chất kỳ vĩ nổi bật trong một hệ thống truyền thuyết
về chiến tranh và những anh hùng trận mạc của thời kỳ dựng nước.
Việc đoàn kết với nhau để chống lại một kẻ thù xâm lược chung
lớn gấp bội, một đế quốc phong kiến mạnh nhất châu Á thời ấy đă
trở thành vấn đề sống c̣n của nước Văn Lang. Phải đoàn kết thành
một khối, phải lớn mạnh vượt bực để tiêu diệt quân thù.
Truyện
Ông Dóng ban đầu vốn là câu chuyện về một anh hùng bộ lạc,
về sau phát triển thành truyện anh hùng dân tộc. Người anh hùng
làng Dóng, đứa con của một người đàn bà nghèo khổ và cô đơn,
cũng là đứa con khổng lồ của nhân dân, mới 3 tuổi đă vụt lớn lên
hơn mười trượng, tập trung sức mạnh và ư chí của nước Văn Lang
quyết chiến thắng kẻ thù xâm lược để bảo vệ quyền sống độc lập
tự do của giống ṇi, của dân tộc. Tất cả mọi người, từ mẹ Dóng
đến dân làng, từ làng chạ đến liên minh bộ tộc, những người làm
ruộng, đánh cá, đi săn, thợ rèn, những em bé chăn trâu, các bô
lăo, các dũng sĩ nổi tiếng từ khắp mọi vùng của đất nước đều
nghe theo tiếng nói đầu tiên của em bé Dóng : tiếng gọi thiêng
liêng quyết tâm giết giặc cứu nước. Mọi sản phẩm của làng chạ và
bộ tộc, từ mâm cơm nong cà đến bụi tre, khối sắt đều được đem ra
đánh giặc. Phải sản xuất để phục vụ chiến đấu và chiến đấu chính
là để bảo vệ sản xuất, bảo vệ những của cải quí báu đă có được
sau bao nhiêu năm tháng vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt lũ
lụt, hạn hán, rừng rậm, đầm lầy, thú dữ. Mọi địa điểm của miền
trung du và đồng bằng, từ ruộng đồng, sông nước, đồi g̣, cầu
quán, con đường, cây đa, giếng nước, hồ ao, rừng tre, băi cát,
phiến đá...đều ghi dấu những bước đi của người anh hùng dân tộc
và những kỳ tích của cuộc chiến tranh nhân dân. Và đỉnh núi Sóc
liền dăy với Tam Đảo cao sánh đôi với Tản Viên (Ba V́) - quê
hương của ông Tản - đă trở thành bàn đạp để ông Dóng cưỡi ngựa
sắt lấy đà bay vào cơi vô tận.
So với những Đam San, Xinh Nhă, chàng Trăng, nàng
Han...trong kho tàng truyền thuyết anh hùng và trường ca anh
hùng của các dân dộc miền núi anh em,
truyện Ông Dóng thực sự là một bản anh hùng ca
trong sáng tác văn hoá dân gian Việt cổ. Cậu bé khổng lồ giết
giặc cứu nước đă được đồng hoá với Mưa Băo và Sấm Sét.
Ông Đổng, Ông Dóng, Ông Đùng, Cơn Dông, Kẻ Đồng, cái Trống, Dóng
trống, Tông beng (trống chiêng) ...đều liên quan với nhau cũng như sau này hội Dóng liên quan
đến lễ cầu mưa, tết mưa dông. Làng Dóng (Phù Đổng) quê hương của
anh hùng bộ lạc, xưa có thể là một trung tâm thờ sấm sét, mưa
băo, thờ rồng, thờ trống sấm. Trống có quan hệ với sấm sét, dông
băo ở trong lễ cầu mưa, có quan hệ với khí thế anh hùng của quần
chúng và uy lực của thủ lĩnh trong lễ tục xuất trận của bộ lạc.
Quan hệ ấy phản ánh quan hệ hiện thực giữa con người với tự
nhiên ở trong sản xuất, cùng với lư tưởng chinh phục tự nhiên
của con người, và quan hệ hiện thực của xă hội ở trong chiến
tranh bộ lạc với ư chí bảo vệ bộ lạc của người Việt cổ.
HỆ THỐNG THẦN THOẠI VÀ SỬ CA VIỆT CỔ :
NHỮNG TRANG ĐẦU TIÊN CỦA BẢN ANH HÙNG CA DÂN TỘC
Qua hệ thống thần thoại truyền thuyết từ Mẹ Âu,
Bố Rồng đến Ông Tản, Ông Dóng, chúng ta thấy sáng tác dân gian
đă phản ánh và đúc kết lịch sử cụ thể thành những h́nh tượng,
biểu tượng rực rỡ, kỳ vĩ. Đó là một thứ "lịch sử thẩm mỹ" của
thời dựng nước, một thứ lịch sử anh hùng ca bổ sung cho những
trang sử sống động được khắc ghi lại trên trống đồng, thạp đồng.
Cũng như người Mường hiện nay c̣n diễn xướng các
bản
mo,
người Tây Nguyên các bản khan, người Việt cổ đă diễn xướng các
truyện kể và trường ca của ḿnh dưới dạng một hệ thống thần
thoại truyền thuyết mạch lạc, lấy quan hệ đất nước, giống ṇi và
bộ tộc làm trục cơ bản, lấy những nhân vật anh hùng khai sáng
văn hoá và bảo vệ cộng đồng Việt cổ làm biểu tượng, lấy ư thức
đoàn kết đấu tranh làm nội dung chính. Sau đây là bản giản lược
hệ thống thần thoại và sử ca ấy :
Hệ
thống thần thoại và truyền thuyết anh hùng ấy, hơn 1000 năm Bắc
thuộc đă không xoá mờ nổi, đánh dấu một tŕnh độ văn hoá tinh
thần đă phát triển cao và ghi lại một chủ nghĩa nhân văn Việt cổ
đặc sắc bao gồm
tinh thần đoàn kết hợp quần, ư chí cần cù lao động sáng tạo và
đấu tranh dũng cảm bất khuất, làm nên sức mạnh của ư thức dân tộc và tự hào dân tộc, một
sức mạnh vĩ đại mà các thế hệ sau sẽ kế thừa và phát huy măi lên
đến những đỉnh cao ṿi vọi trong bản anh hùng ca mấy ngh́n năm
chiến đấu và chiến thắng của nhân dân Việt Nam.
Sưu
tầm
|
|