|
|
CHIẾN TRANH,
HIỆN TƯỢNG THƯỜNG XUYÊN TRONG THỜI DỰNG NƯỚC
Có những nhà nghiên cứu cổ sử học, khảo cổ
học cho rằng ở thời Hùng Vương, ngành quân sự có lẽ được phát
triễn hơn các ngành khác. Vua Hùng vốn là một thủ lĩnh thiện
chiến của bộ lạc Văn Lang (hay Mê Linhà), ngự trị trên vùng đất
nằm vắt ngang hai bên bờ sông Thao từ chân núi Ba V́ đến sườn
núi Tam Đảo. Ngoài bộ lạc Văn Lang c̣n có 14 bộ lạc khác : bộ
lạc Dâu, bộ lạc Nành, bộ lạc Trâu, bộ lạc Rồng... Giữa các bộ
lạc bắt đầu có nhiều cuộc xung đột vơ trang để giành quyền thống
trị. Chiến tranh trở thành hiện tượng thường xuyên trong xă hội
thời Hùng Vương ; đào ở đâu cũng thấy nhiều vũ khí : giáo, lao,
dao găm, kiếm, qua, ŕu chiến, mũi tên, mảnh giáp bằng đồng...Trên
trống đồng ghi lại h́nh ảnh những người vũ trang, những thuyền
chiến, cảnh chiến tranh, giết tù binh...

Sau một thời gian, vua Hùng chiến thắng được tất
cả các bộ lạc lập thành một liên minh bộ tộc tức là nước Văn
Lang. Quân đội của nhà nước sơ khai đầu tiên này trong lịch sử
dân tộc chắc hẳn là một lực lượng tương đối có tổ chức, có bộ
phận thường trực, có những đơn vị thân binh để hộ vệ vua Hùng,
các Lạc hầu, Lạc tướng và làm chủ lực trong các cuộc chiến tranh.
Tuy nhiên lực lượng quân sự lúc ấy chưa nhiều. Mỗi lần có chiến
tranh, nhà nước có truyền thống dựa vào các lực lượng chiến đấu
và hậu cần trong nhân dân các làng chạ.
Nông dân các làng chạ khi b́nh thường th́ lao
động sản xuất, khi biến động th́ sẵn sàng chiến đấu theo lệnh
của thủ lĩnh quân sự. Ở các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Tây
Nguyên thời cận đại đều như thế. Nhà nước các triều đại phong
kiến sau này vẫn dùng chính sách " ngụ binh ư nông ", và vẫn c̣n
sử dụng hương binh (hay dân binh) trong một chừng mực nhất định.
VŨ KHÍ THÔ SƠ
VÀ VŨ KHÍ HIỆN ĐẠI
Việc trang bị cho quân đội thường trực thời Hùng
Vương cũng đă thành vấn đề. Các loại vũ khí thô sơ mà mỗi người
có thể tự túc dễ dàng dần dần nhường bước trước vũ khí hiện đại
bằng kim loại. Từ khi kim loại tham gia vào chiến tranh, các
cộng đồng lớn phải mở những xưởng thủ công chuyên chế tạo vũ khí
v́ cá nhân hay cộng đồng nhỏ không có đủ khả năng. Các xưởng này
sản xuất ra ŕu, giáo, lao, dao găm các loại...và các quân trang,
quân dụng khác như áo giáp, tấm đồng che ngực, trống đồng,
thuyền đồng...
Ở miền Đông Nam Á cổ đại, trống đồng có giá trị
như là chiếc gậy chỉ huy ở các dân tộc khác trên thế giới. Chủ
nhân của trống là những kẻ có quyền lực lớn nhất trong cộng đồng.
Sách sử cổ của Trung Quốc có ghi : " Người Di Lăo ở phía nam Ngũ
Lĩnh muốn đánh nhau th́ đánh trống (đồng) lên, dân chúng kéo đến
ùn ùn như mây. Người có trống được gọi là Đô Lăo, được dân chúng
suy tôn và phục tùng ".
TÀI BƠI LỘI,
ĐI THUYỀN VÀ THUỶ CHIẾN CỦA TỔ TIÊN TA
Người Việt cổ là một cư dân làm ruộng nước, đánh
cá, cắt tóc, xăm ḿnh, sống gần sông nước nên giỏi bơi lặn, thạo
chèo thuyền vượt biển. Hàng năm trong dịp hội làng, nhân dân tổ
chức đua thuyền để cầu nước, để vui chơi mà cũng để ôn luyện
thuỷ chiến. Thuyền chiến thời Hùng Vương, như thấy chạm khắc
trên trống đồng, chở những thuỷ thủ vũ trang bằng giáo mác,
khiên, ŕu chiến, cung tên trong tư thế sẵn sàng chiến đấu;
thuyền có bánh lái, cột buồm, đằng lái có lầu canh. Theo sử sách
Trung Quốc cổ, miền đất Văn Lang là " xứ sở của những người sống
được dưới mặt nước " (ư nói bơi lặn giỏi) ; ở đất Việt cổ " việc
trên cạn ít, việc dưới nước nhiều " ; " dân quen ở nước " ; "
Vua Thang vua Vũ là thánh chúa cũng không thể cùng người Việt
chèo thuyền trôi nổi trên sông nước " ; " Người Việt thạo thuỷ
chiến, giỏi dùng thuyền ". Hàng ngh́n năm trước Ngô Quyền và
Trần Hưng Đạo con cháu của bố Rồng, tổ tiên thần thoại thống
lĩnh vùng sông nước đă khơi nguồn
truyền thống Bạch Đằng
một
truyền thống vẻ vang trong lịch sử thượng vơ của dân tộc Việt
Nam.
KHÁNG CHIẾN
CHỐNG XÂM LĂNG VÀ NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH, KỸ THUẬT QUÂN SỰ THỜI
DỰNG NƯỚC
Chiến tranh đă trở thành một hiện tượng xảy ra
tương đối thường xuyên, trong đó chủ yếu là những cuộc chiến
tranh chống ngoại tộc xâm lược. Qua nhiều truyền thống, thần
tích vùng trung du, vùng đồng bằng Bắc Bộ, chúng ta thấy hầu hết
các tướng tá của vua Hùng đều luôn luôn phải mang quân đi đánh
dẹp các cuộc xâm lăng của ngoại tộc từ nhiều phía. Đó là những
bọn giặc Ân, giặc Tây Thục, Ai Lao, Hồ Tôn, Ô Lư, Xích Tỵ v.v...Trong
số các ngoại tộc mà truyền thuyết và thần tích nhắc đến, có thể
xác minh được một số : ví dụ Hồ Tôn là người Lâm Ấp ở phía nam
Cửu Chân, Ai Lao và Tây Thục là người Bộc ở vùng Quư Châu và
Quảng Tây phía bắc Văn Lang. Các bộ tộc và các tộc người tranh
nhau quyền làm bá chủ hay đấu tranh giữ vững lănh thổ và đời
sống độc lập của ḿnh.
Xem xét những vũ khí thời Hùng Vương để lại, rất
giàu về số lượng, phong phú về loại h́nh (nhiều loại giáo, lao,
nhiều kiểu dao găm, hơn 10 kiểu mũi tên đồng...) t́m thấy ở
nhiều nơi từ Việt Bắc đến Nghệ Tĩnh, có thể thấy rằng
ư chí
chiến đấu
của
người Việt cổ đă được thể hiện tới một tŕnh độ nhất định. Chiến
tranh đă là hiện tượng xă hội không tránh được th́ cần phải tạo
ra những phương tiện thích hợp để tiến hành chiến tranh.
Sự cân nhắc, tính toán, tập trung chú ư của người
xưa vào hiện tượng chiến tranh thể hiện ở việc họ đă chế tạo
nhiều loại vũ khí với những tính năng lợi hại khác nhau. Như ŕu
chiến có thứ lưỡi phát triển lệch về một phía để chém cho khỏe,
lại có thứ lưỡi x̣e rộng, chém bổ xuống xuống rồi hất ngược lên,
mỗi lần vung tay là chém được hai đ̣n. Qua một chi tiết như thế,
có thể thấy óc t́m ṭi sáng tạo của người xưa trong lĩnh vực kỹ
thuật quân sự. Trong suốt quá tŕnh phát triển của thời đại đồ
đồng, vũ khí được liên tục cải tiến. Sự t́m ṭi sáng tạo ấy là
một đặc trưng của tinh thần biết ḿnh biết người trong khoa học
và nghệ thuật chiến tranh.
Vũ khí thời Hùng Vương thường nhỏ, nhẹ, ngắn, gọn
khác với vũ khí của nhiều miền khác, ở cùng thời hay khác thời,
thường là to, nặng, dài, cồng kềnh. Cách trang bị cho các chiến
sĩ Việt cổ cũng gọn nhẹ một cách thích hợp : chỉ dùng tấm đồng
che ngực mà không dùng áo giáp, mũ đồng, chỉ đi chân đất không
có giày. Vũ khí và trang bị của những người tham gia chiến đấu ở
thời Hùng Vương như vậy là đă có một phong cách riêng thích hợp
với điều kiện thiên nhiên, kinh tế, số dân và thể chất của người
Việt cổ.
NHỮNG NGỌN
NGUỒN CỦA TRUYỀN THỐNG THƯỢNG VƠ VÀ CỦA CHỦ NGHĨA ANH HÙNG VIỆT
NAM
Trong những điều kiện như thế,
tinh thần dũng cảm ngoan cường
của họ là một yếu tố quan trọng. Về mặt vũ khí, biểu hiện cụ thể
của tinh thần ấy là sự phổ biến và tính phong phú của các loại
vũ
khí đánh gần, đánh giáp lá cà
:
giáo, lao, qua, ŕu và nhất là dao găm.
Dao găm
có rất nhiều loại : loại có chắn tay, loại
không có chắn tay, loại chuôi tṛn, không kể loại lấy tượng
người làm chuôi, loại lưỡi rộng bản để khoét rộng vết thương,
loại lưỡi nhỏ mà dài để xuyên sâu địch thủ. Ở những mũi giáo có
một lỗ hay hai lỗ nhỏ ở thân có thể dùng để buộc các mồi lửa để
tăng thêm hiệu lực tiêu diệt địch. Người Việt cổ c̣n phát huy sở
trường chiến đấu của ḿnh bằng cách phát triển lối
đánh bằng
thuyền,
và
đánh bằng cung nỏ.
Những h́nh thuyền chiến phổ biến trên trống đồng, số lượng của
hàng chục kiểu đầu mũi tên đồng, của hàng vạn mũi tên đồng đào
được ở khắp nơi đă chứng minh cho
sở trường
thuỷ chiến
và
sở
trường xử dụng cung nỏ
mà
sử sách cổ của Trung Quốc cũng đă phải thừa nhận.

Tính tổ
chức, óc kỷ luật, tinh thần bất khuất
của quần chúng nhân dân, nhờ được rèn luyện luôn luôn trong các
cuộc chiến đấu, đă trở thành một đặc điểm của truyền thống
thượng vơ Việt Nam. Ở thời Hùng Vương,
đoàn kết
chiến đấu chống ngoại xâm
đă
là vấn đề nổi bật lên hàng đầu.
Chiến tranh
nhân dân, truyền thống cả nhà đánh giặc, cả làng đánh giặc, toàn
dân ra trận,
thực sự đă h́nh thành từ thời ấy. H́nh tượng
Ông Dóng
chính là sự kết tinh của ư chí chiến đấu
và chiến thắng của nhân dân các làng chạ và liên minh bộ tộc
Việt cổ.
Sưu
tầm
|
|