Trang Chủ

  Tham Luận
  Tin Việt Nam
  Tin Cộng Đồng
  Tin Hoa Kỳ
  Tin Thế Giới

    Trang phong tục tập quán

     
 

Những Năm Hợi Trong Lịch Sử

 
      
 

     Mỗi năm, vào dịp tết, các báo thân hữu thường khuyến khích chúng tôi viết một bài về năm mới. Năm nay, dưới đề tài “Những Năm Hợi Trong Lịch Sử” tôi cũng sẽ ghi lại một số biến cố lịch sử đă xảy ra trong những năm Hợi từ Đinh Hợi (214 trước Công nguyên, cách nay 2221 năm dưới thời Tần Thủy Hoàng  bên Trung quốc) cho đến năm Đinh Hợi 2007. 

 
 

 

      Đây cũng là cơ hội chúng tôi cũng như quư độc giả được đọc lại các tài liệu lịch sử như -Đại Việt Sử Kư Toàn Thư (do Lê văn Hưu biên soạn từ thời nhà Trần, và Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên từ thời nhà Lê), -Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (do Quốc Sử Quán nhà Nguyễn biên soạn từ thời Thiệu Trị, Tự Đức),-Đại Nam Thực Lục (Tiền Biên và Chính Biên);-Đại Nam Liệt Truyện (Tiền Biên và Chính Biên) cả hai tác phẩm nầy đều do Quốc sử quán nhà Nguyễn biên soạn...và một số sách, báo, tác phẩm nghiên cứu xuất bản trong thời đại chúng ta...Chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ liệt kê và tóm tắt sự kiện. Tất nhiên, chúng tôi cũng chỉ nêu lên những biến cố quan trọng có ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc chúng ta mà thôi. 

Trong tinh thần “ôn cố tri tân”, chúng tôi thường nghe các bậc tiền bối xưa nói rằng “tuổi Hợi nằm đợi mà ăn” có nghĩa là, người sinh năm Hợi th́ được no đủ quanh năm, cuộc đời không đói khổ. Nhưng qua lịch sử, chúng tôi thấy những năm Hợi là những năm đầy biến cố: chiến tranh, thiên tai, băo lụt, mất mùa,v.v... Gần đây nhất là năm Đinh Hợi (1947) năm chiến tranh tàn khốc từ Bắc chí Nam, chiến tranh giữa Pháp và Việt, chiến tranh giữa người quốc gia và người Cộng Sản (Việt Minh do Hồ Chí Minh lănh đạo), giải pháp Bảo Đại ra đời...

Từ 60 năm nay, dân tộc Việt Nam đă trải qua biết bao đau khổ, huynh đệ tương tàn, nhân dân bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, bỏ quê hương miền Bắc, miền Trung để chạy vào Nam; rồi lại bỏ Việt Nam chạy tản mác khắp nơi trên thế giới, kẻ chết trong rừng, người chết trên biển, chết trong các nhà tù Cộng Sản, chết tại biên giới Việt-Trung hay chết trên chiến trường Kampuchia...Ước mong rằng năm Đinh Hợi (2007) nầy sẽ là năm “đổi mới” thực sự, năm có tự do, dân chủ, thịnh vượng thực sự cho người Việt Nam chúng ta trên quê hương và nơi hải ngoại.

-Đinh Hợi (214 trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng năm 33, nhà Tần sai Đồ Thư và Sử Lộc sang chiếm lấy đất Lĩnh Nam đặt ra Tượng quận. Theo chính sách thực dân của nhà Tần, Tần Thủy Hoàng ra lệnh bắt những người trốn tránh, người ở gửi rể và bọn lái buôn ở các nơi phải đi lính và sai quan hiệu úy là Đồ Thư làm tướng.  Sử Lộc th́ lo đóng thuyền lầu, đào sông, khơi ng̣i, đắp đập... để vận chuyển vào vùng Lĩnh Nam, chiếm lấy đất Lục Lương, đặt ra ba huyện Quế Lâm, Nam Hải và Tượng quận, đày hạng người nói trên đến ở lâu dài, không cho trở về quê cũ; gọi đó là chính sách “thực dân” (thực là trồng). Người Việt rủ nhau vào rừng, bất hợp tác với nhà Tần, lại bầu những người tài giỏi lên làm tướng, đánh nhau với người của nhà Tần và giết được Đồ Thư. Sử Lộc là người phương Nam (tức người Việt thời cổ sử, có tài nên được Tần Thủy Hoàng dùng).

 

-Kỷ Hợi (939):  Dương Diên Nghệ bị Kiều Công Tiện giết, Ngô Quyền là con rể của Diên Nghệ, đem quân đánh Kiều Công Tiện để trả thù cho bố vợ. Tiện cho người cầu cứu với vua Nam Hán là Lưu Cung. Thời  bấy giờ nước Tàu bị phân hóa, con cháu các ḍng họ Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu mỗi người chiếm cứ một vùng gọi là thời Ngũ quư hay Ngũ đại. Họ Lưu là con cháu nhà Hán chiếm cứ phía Nam giáp giới nước ta gọi là Nam Hán.  Thấy t́nh h́nh nước ta lộn xộn, vua Nam Hán sai con là Lưu Hoằng Thao đem quân qua đánh. Sau khi giết được Kiều Công Tiện, lợi dụng nước thủy triều lên xuống rất bất thường trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đă bày thế trận đánh thắng quân Nam Hán, giết được Thái tử Lưu Hoằng Thao, tự xưng làm vua, đóng đô ở Cổ Loa, tổ chức triều đ́nh, đặt con gái của Dương Diên Nghệ làm hoàng hậu. Nhưng nhà Nam Hán chỉ phong cho Ngô Quyền làm Tiết độ sứ mà thôi. Ngô Quyền là người đầu tiên đánh thắng quân Tàu, dựng nền độc lập cho nước ta sau 1000 năm bị người Tàu đô hộ.

-Đinh Hợi (1287) lần thứ hai quân Mông Cổ xâm lăng nước ta với quân số hơn 100.000 người và 500 chiếc thuyền dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan. Tŕnh Bằng Phi, Áo Lỗ Xích mỗi người đem l0.000 quân đi đường bộ; Ô Mă Nhi và Phàn Tiếp đi đường thủy, cả hai đạo quân cùng tiến. Các xe chở lương thực, súng đạn và quần áo của binh sĩ th́ để ở biên giới do Hạ Chỉ và Trương Ngọc trông coi.  Vua Trần Nhân Tông được tin liền hỏi Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo):“Bây giờ giặc đến th́ mưu tính thế nào?” Hưng Đạo vương thưa rằng:“ Năm nay đánh thắng giặc có phần dễ hơn trước”.

     Quân Nguyên tiến thẳng qua sông, xâm phạm vào kinh thành, vua Trần rước Thái Thượng hoàng theo đường biển xuôi về phương Nam để tránh nạn. Quân Nguyên đuổi theo không kịp. Trần Khánh Dư đánh nhau với quân của Ô Mă Nhi bị thua, ông thu thập tàn quân chờ đợi cơ hội khác...Khi quân của Ô Mă Nhi đi rồi th́ đoàn vận tải lương thực của quân Nguyên do Văn Hổ cũng đến sau đó...Trần Khánh Dư cho quân mai phục tiến đánh, quân Nguyên thua to, thuyền của chúng bị mắc cạn, sa lầy không đi được nửa...Tất cả lương thực bị ch́m xuống biển. Trần Khánh Dư đưa những binh lính của quân Nguyên bị ta bắt được đến đồn của Ô Mă Nhi, nói cho biết t́nh h́nh. Quân Ô Mă Nhi thiếu lương thực lâu ngày nên binh sĩ bị khủng hoảng, không c̣n  tinh thần để chiến đấu. Ô Mă Nhi đợi măi không thấy thuyền chở lương của Văn Hổ đến, bèn chia quân cố thủ, không dám tiến nữa.

     Tháng 3 năm sau (Mậu Tưù, 1288) Trần Hưng Đạo huy động toàn bộ quân nhà Trần, rước vua Trần Nhân Tông đi theo để tổng phản công. Trần Hưng Đạo dùng chiến thuật của Ngô Quyền ngày xưa, đánh thắng quân Nguyên tại sông Bạch Đằng. Thủy quân của Mông Cổ tan ră, Ô Mă Nhi bị bắt sống, lính chết rất nhiều, quân ta lấy được 400 thuyền của chúng. Thoát Hoan theo đường bộ chạy về nước. Các tướng  chỉ huy lục quân như Trương Ngọc, A Bát Xích chạy theo Thoát Hoan đều tử trận, đa số lính sống sót đều bị thương, mang cả băng bó chạy về Tàu. Nhà vua rước Thái Thượng hoàng về Thăng Long, đem Ô Mă Nhi và các tướng Mông Cổ bị bắt ra xử tử để làm lễ hiến phù, để báo cáo với tổ tiên liệt thánh và toàn dân được biết.

-Tân Hợi (1371) nhà trần suy yếu, vua Trần Dụ Tông, lấy vợ của người hát xướng là Dương Khương khi bà ấy đang có thai, sinh ra Dương Nhật Lễ. Vua chết, không có con nối ḍng nên nghe lời Huệ Từ cho Dương Nhật Lễ lên nối ngôi. Dương Nhật Lễ tôn mẹ làm Huệ Từ Tuyên Thánh Thái hoàng thái hậu và giết hại nhiều hoàng thân quốc thích nhà Trần. Cung Tĩnh vương là Trần Nguyên Trác âm mưu lật đổ Nhật Lễ thất bại, bị giết. Về sau Cung Định vương được các tướng ủng hộ, giết được Nhật Lễ, lên ngôi tức Trần Nghệ Tông. 

-Tháng 3 năm Tân Hợi (1371) quân Chiêm Thành vào cướp phá kinh đô Thăng Long, vua phải chạy sang huyện Đông Ngàn. Quân Chiêm bắt các hoàng tử, công chúa, lấy các vật quư trong cung rồi lên thuyềøn ra biền trở về Nam...Từ đấy, năm nào chúng cũng vào cướp phá Thăng Long...

-Quư Hợi (1383)  Tháng Giêng, vua sai Hồ Quư Ly đem quân đi đánh Chiêm Thành, giữa đường Hồ Quư Ly đem quân trở về. Tháng 6 quân Chiêm Thành do Chế Bồng Nga, vào đánh phủ Quảng Oai, vua Trần chạy sang huyện Đông Ngàn.

-Ất Hợi (1395): Hồ Quư Ly giết tông thất nhà Trần là Trần Nguyên Uyên và Trần Nguyên Dận v́ hai ông nầy thấy Hồ Quư Ly có âm mưu cướp ngôi nhà Trần nên bàn với nhau chống lại Hồ Quư Ly.

-Đinh Hợi (1407) Bấy giờ Hồ Quư Ly đă cướp ngôi nhà Trần và truyền ngôi cho con là Hồ Hán Thương. Con cháu nhà Trần chạy sang kêu cứu nhà Minh. Nhà Minh sai tướng Mộc Thạnh đem quân qua đánh. Con của Hồ Hán Thương là Hồ Nguyên Trừng đem quân chống giữ ở biên giới bị thua. Người nhà Trần ra đầu hàng quân Minh và hợp tác với chúng. Quân Minh tiến sâu vào nội địa nước ta, bắt được cha con Hồ Quư Ly, Hồ Hán Thương, v.v...giải về Tàu. Nhà Minh bèn đổi tên nước ta làm Giao Chỉ và đặt quan cai trị, chia nước ta làm 17 phủ, 5 châu, 12 vệ...cho Trương Phụ thay mặt vua Minh cai trị nước ta. Quan lại trong nước đều do Trương Phụ chỉ định. Đa số trí thức nước ta bỏ trốn vào rừng, một số theo nhà Minh để được yên thân, hưởng phú quư...Con thứ của vua Trần Nghệ Tông Trần Ngỗi tự xưng là Giản Định Đế, kêu gọi toàn dân chống lại quân Tàu xâm lăng... Quân Minh đến đánh, Giản Định Đế thua, chạy vào Nghệ An, được Đặng Tất là người Hóa Châu (Thừa Thiên bấy giờ) giúp...

-Kỷ Hợi (1419) sau khi Giản Định Đế nhà Trần bị quân Minh giết, năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa) xưng là B́nh Định vương, để chống lại quân Minh. Tháng 8 năm Kỷ Hợi (1419) B́nh Định Vương Lê Lợi đem quân đánh đồn Nga Lạc bắt được Nguyễn Sao (người Việt theo giặc Minh) đem ra chém đầu, rồi rút quân về núi Chí Linh. Lê Lợi bị vây ở Chí Linh. Lê Lai t́nh nguyện cải giả làm Lê Lợi đem quân ra đánh để cho quân Minh bắt...Quân Minh tưởng đă bắt được Lê Lợi thật rồi nên rút quân về. Lê Lợi ẩn náu trong rừng sâu, củng cố lại lực lượng, chờ thời cơ...Tháng 11 năm đó, các nơi trong nước như  Hạ Hồng, Tân Minh, Khoái Châu và  Hoàn Giang nghe tin Lê Lợi khởi binh, cũng đứng lên chống lại quân Minh...nhưng đều bị tướng Minh là Lư Bân đem quân dẹp tan.

-Tân Hợi (1431): sau 10 năm kháng chiến (1418- 1428), Lê Lợi thắng được quân Minh , giải phóng đất nước, lên ngôi, lập ra nhà Lê tức Lê Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên. Tháng 11 năm Tân Hợi (1431) sứ nhà Minh qua nước ta phong cho vua làm An Nam Quốc Vương, vua sai Nguyễn Văn Huyến sang nhà Minh tạ ơn và triều cống hàng năm là 5 vạn lạng vàng mục đích để cho dân nước ta được hưởng thái b́nh, tránh chiến tranh giữa hai nước. Vua cũng sai Nguyễn Trăi làm sách “Lam Sơn Thực Lục” ghi chép công lao của các tướng trong 10 năm kháng Minh và sai Lê Sát đem quân đi đánh  Đèo Cát Hăn, lănh tụ người thiểu số ở vùng núi Thanh Hóa...c̣n chưa quy thuận triều đ́nh.

-Quư Hợi (1443) Nguyên vào tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442) vua Lê Thái Tông đi thăm Lam Sơn trở về tạm trú qua đêm tại vườn Lệ Chi (thường gọi Lệ Chi Viên tức trại Vải, làng Đại Lại, huyện Gia Định) có Nguyễn Thị Lộ theo hầu hạ vua. Nguyễn Thị Lộ trước đây là vợ bé của Nguyễn Trải.  Đêm đó, vua lên cơn sốt rét và qua đời bên cạnh Nguyễn Thị Lộ. Ban đêm, các quan đưa xác vua về kinh thành, rồi họp nhau kết tội Nguyễn Thị Lộ giết vua, Nguyễn Trăi bị tru di tam tộc. Thái tử Lê Bang Cơ mới hai tuổi được đưa lên nối ngôi tức Lê Nhân Tông, niên hiệu Thái Ḥa. Tháng Giêng năm Quư Hợi (1443) là năm đầu niên hiệu Thái Ḥa. Đại thần là Nguyễn Khả và Nguyễn Xí làm phụ chính. (Hai ông nầy đều được vua Lê Thái Tổ ban cho quốc tính họ Lê). Vua sai sứ sang nhà Minh báo tin có tang và xin cầu phong. Tháng 11 năm Quư Hợi (1443) phái bộ sứ nhà Minh là Tŕnh Cảng, Tống Kiệt, Tiết Kiêm sang phong cho Lê Nhân Tông làm An Nam Quốc vương. Sau khi sứ  nhà Minh về nước rồi, vua cho một phái bộ gồm Nguyễn Như Đỗ, Lương Như Hộc, Tŕnh Dục, Nguyễn Khắc Hiếu...mang lễ vật qua nhà Minh tạ ơn.

-Ất Hợi (1455) vua sai Phan Phu Tiên viết tiếp bộ Đại Việt Sử Kư từ Trần Thái Tông (1225 – 1257) đến khi quân Minh rút về nước (1427) gồm 10 quyển. Đại Việt Sử Kư do Lê Văn Hưu biên soạn, chép từ thời Triệu Đà đến đầu nhà Trần.

-Đinh Hợi (1467) dưới thời vua Lê Thánh Tông (lên ngôi 1460) vua ra lệnh sưu tầm các thơ văn của Nguyễn Trăi bị thất lạc. Sách “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục” do nhà Nguyễn biên soạn, viết rằng :“Ông Nguyễn Trăi giúp Lê Thái Tổ khai quốc, rồi lại giúp Lê Thái Tông, tài trí, phép tắc, mưu mô, đạo đức, đều vượt hơn hết mọi người lúc bấy giờ; ngoài ra, ông lại cóo những tác phẩm như Quân trung từ mệnh, Dư địa chí, Ngọc đường thi tập, Giao tự đại lễ, Thạch bàn đồ, và văn thơ. Đến khi bị giết, di thào của ông phần nhiều bị mất mát, chỉ cọn sót lại được chút ít, nhà vua xem đến, đặc biệt ngợi khen, cho nên hạ lệnh sưu tầm.” –Trước đây, vua chủ trương mở mang bờ cơi về phương Nam nên nhiều lần đem quân đánh Chiêm Thành (tên cũ là Lâm Ấp). Tháng 3 năm Đinh  Hợi (1467) sứ nước Chiêm vào triều cống và xin thần phục. Tháng 10, nước Ai Lao xin phụ thuộc vào nước ta.

-Kỷ Hợi (1479) vua ra lệnh cho Ngô Sĩ Liên làm sách Đại Việt Sử Kư Toàn Thư gồm 15 quyền: Từ Hồng Bàng đến Ngô Quyền (gồm 5 quyển) gọi là Ngoại kỷ nghĩa là thời kỳ chưa được Trung Quốc thừa nhận là một quốc gia độc lập...; từ Đinh Tiên Hoàng đến Lê Thái Tổ gồm 10 quyển gọi là Bản Kỷ là thời kỳ nước ta được Trung Quốc phong làm quốc vương (thừa nhận chủ quyền của một nước độc lập). Đinh Bộ Lĩnh là người đầu tiên được vua Trung Quốc phong làm quốc vương.-Tháng 8, nước Lăo qua xâm phạm biên giới, nhà vua ra lệnh đem quân đi đánh. Tháng 10, quân Bồn Man ở phía Nam làm phản, vua tự ḿnh đem quân đi đến Thân Bồ  th́ trở về và trao cho Lê Niệm chỉ huy quân đội đi đánh dẹp, giặc  Lgăo qua và Bồn Man đều thua .

-Ất Hợi (1515) dưới thời Lê Tương Dực, nhà Lê suy yếu, vua hoang dâm và làm nhiều điều tàn ác, loạn lạc nổi lên khắp nơi như Phùng Chương ở Sơn Tây, Đặng Hăn ở Thanh Hóa. Nhà vua sai các tướng đi dẹp. Sứ Tàu nhận xét:“Trông nhà vua người lệch ḿnh, trông như tướng con lợn, tính hoang dâm, ắt đất nước sắp có loạn”

-Đinh Hợi (1527) Trong nước loạn lạc khắp nơi, Mạc Đăng Dung  nắm quân đội trong tay, ở trong triều th́  cướp quyền vua, bên ngoài th́ liên kết với các đảng cướp. Tháng 7 năm Nhâm Ngọ (1522)ï, ban đêm, vua Lê Chiêu Tông bỏ trốn ra khỏi kinh thành, chạy đến với Trịnh Tuy, để chống lại Mạc Đăng Dung. Kinh thành không có vua nên Mạc Đăng Dung đặt người em của vua là Hoàng đệ Xuân lên ngôi và đem quân đuổi theo Lê Chiêu Tông. Các nơi hưởng ứng chống lại Mạc Đăng Dung. Vua  thay đổi chỗ ở, khi nơi nầy khi nơi khác, cuối cùng vua bị Mạc Đăêng Dung bắt, giết đi. Tháng 8 năm Đinh Hợi(1527), Mạc Đăng Dung truất phế Hoàng đệ Xuân và Hoàng thái hậu họ Trịnh rồi bắt ép Xuân phải tự tử...Mạc Đăng Dung tự lập làm vua tức là Thái tổ nhà Mạc.

-Kỷ Hợi (1539) lúc bấy giờ ông Nguyễn Kim đă t́m được con cháu nhà Lê và lập lên làm vua ở Thanh Hóa để chống nhà Mạc. Nguyễn Kim chết, trao quyền cho con rể là  Trịnh Kiểm....

-Kỷ Hợi (1599) từ năm 1592, Trịnh Tùng bắt được Mạc Mậu Hợp, rước vua Lê về  kinh đô Thăng Long, nhưng con cháu nhà Mạc c̣n hoạt động ở vùng Cao Bằng và một vài nơi trong nước. Mặc dù vua Lê đă thiết lập được triều đ́nh ở Thăng Long nhưng tất cả binh quyền đều ở trong tay Trịnh Tùng. Năm 1599, Trịnh Tùng xin vua Lê phong cho ông chức Đô nguyên súy, Tổng quốc chính, Thượng phụ, B́nh an vương, được thiết lập phủ chúa và có triều đ́nh riêng, mọi quan lại đều do Trịnh Tùng sắp đặt, Tùng trực tiếp điều hành việc nước, vua Lê chỉ là bù nh́n...Họ Trịnh cha truyền con nối, đời này qua đời khác kế tiếp nhau làm chúa ở Bắc Hà.  Tháng 8 năm Kỷ Hợi (1599) vua Lê Thế Tông mất lúc 33 tuổi, Trịnh Tùng bỏ con trưởng của vua là Lê Duy Tŕ và đưa con thứ là Lê Duy Tân lên ngôi tức Lê Kính Tông. Lê Kính Tông phong cho Nguyễn Hoàng chức Hữu tướng.

-Tân Hợi (1611), chúa Nguyễn đánh Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Ḥa, cho Văn Phong làm lưu thủ ở đấy.

Quư Hợi (1623), tháng 6, Trịnh Tùng bị bệnh nặng, con thứ là Trịnh Xuân nổi loạn âm mưu cướp ngôi của cha. Trịnh Tùng cho mời Xuân đến hứa sẽ nhường ngôi, nhưng sau đó bắt Xuân giết đi. Trịnh Tùng chết ở dọc đường, Trịnh Tráng lên nối ngôi chúa,   lập Ngọc Tú (con chúa Nguyễn) là Tây cung (hoàng hậu).  Tướng Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật tâu với Nguyễn Phúc Nguyên rằng:“ Trịnh Tùng mới chết, con là Trịnh Tráng mới lên, muốn đánh th́ đánh”. Hiền vương bảo các tướng:“Ta muốn nhân cơ hội này khởi binh để pḥ vua Lê, nhưng đánh người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người ta lâm nguy là bất vơ. Huống chi ta với họ Trịnh có nghĩa thông gia, chi bằng trước hết hăy đem lễ đến phúng điếu để xem t́nh h́nh rồi sau hăy liệu kế”. Các tướng đều bái phục, chúa bèn sai Nguyễn Phúc Kiều (được ban quốc tính họ Nguyễn phúc) làm sứ ra Bắc Hà phúng điếu họ Trịnh. Kiều mang mật thư của công chúa báo cáo t́nh h́nh về cho chúa Nguyễn.-Con cháu nhà Mạc là Mạc Kính Khoan đem quân đánh Gia Lâm bị Trịnh Tráng  đánh bại phải chạy về Cao bằng. Năm 1625, tướng Trịnh là Trịnh Kiều tấn công Cao Bằng bắt được Mạc Kính Cung giải về kinh đô xử tử, Mạc Kính Khoan xin hàng, con cháu họ Mạc từ đây hoàn toàn  bị tiêu diệt.

-Ất Hợi (1635) chúa Nguyễn Phúc Nguyên mất ở Phú Xuân, con là Nguyễn Phúc Lan (sinh năm 1601) nối ngôi, dời phủ chúa về Kim Long. Người anh em của chúa là Nguyễn Phúc Anh lúc đó đang làm Trấn thủ Quảng Nam, liên lạc với họ Trịnh, hẹn cùng khởi binh, việc bị phát giác, Nguyễn Phúc Anh bị bắt và bị giết. Chú của chúa là Nguyễn Phúc Khê có công, được trọng thưởng.

-Đinh Hợi (1647) Quân nhà Thanh (Măn Châu) đánh chiếm Trung Quốc vua nhà Minh  mới lên ngôi là Dường vương Duật Kiện, chạy về Phúc Châu. Vua Lê cho Nguyễn Nhân Chính làm chánh sứ sang  chúc mừng... Khi phái đoàn của Nguyễn Nhân Chính đến nơi th́ được tin vua nhà Minh đă bị quân Thanh bắt và những người trung thành với nhà Minh lập Quế vương Do Lang lên ngôi niên hiệu Vĩnh Lịch, đóng ở Triệu Khánh...Nguyễn Nhân Chính bèn đến Triệu Khánh yết kiến vua Vĩnh Lịch. Nhà Minh bèn phong cho vua Lê làm An Nam quốc vương.

Kỷ Hợi (1659): Trịnh Tạc tự phong làm Thượng sư Tây vương. Chúa Trịnh thấy quân Nguyễn do Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu chỉ huy đánh thăng luôn nhiều trận, rất lo lắng, liền sai người mang vàng bạc mua chuộc Nguyễn Hữu Dật. Dật liền đem việc ấy báo cho chuá Nguyễn và  muốn tương kế tựu kế, để đánh quân Trịnh. Những v́ các  tướng Nguyễn  bất đồng nên việc không thành.

-Tân Hợi (1671), tháng 10, vua Lê Huyền Tông mất, ở ngôi 9 năm, thọ 18 tuổi, không có con nối ḍng. Trịnh Tạc đưa em vua là Lê Duy Khoái lên ngôi tức Lê Gia Tông.

-Quư Hợi (1683)  Những người chạy theo họ Mạc trốn qua Trung Quốc bị nhà Thanh bắt, nay được trao trả cho nhà Lê tất cả 350 người. Vua Lê tha tội chết và phân phối cho họ được ở chung với dân vùng biên giới, có người được quan chức và được phục vụ tại địa phương. Ngô Tam Quế chống lại nhà Thanh, đă gởi thư kêu gọi nhà Lê ủng hộ y...Vua Lê từ chối..đến khi nhà Thanh diệt được Ngô Tam Quế bèn cho sứ qua nước ta ban cho vua Lê bốn chữ “trung hiếu thủ bang” (có ḷng trung thành hiếu kính giữ nước)

-Kỷ Hợi (1719) Vua Lê Hy Tông đă mất từ năm 1716 (ở ngôi 30 năm, làm thái thượng hoàng 12 năm);  đến năm 1719, con là Lê Dụ Tông, nhân dịp cho sứ qua triều cống nhà Thanh mới cáo phó “vua cha mất”. V́ thế đến tháng 12 năm Kỷ Hợi (1719) nhà Thanh mới cho sứ qua phân ưu và phong cho Lê Dụ Tông làm An Nam quốc vương.

-Tân Hợi (1731), Tháng giêng, Lê Dụ Tông mất, làm vua 25 năm , nhường ngôi 2 năm, làm thái thượng hoàng, thọ 52 tuổi, con là Lê Thuần Tông (tên thật là Lê Duy Phường) nối ngôi từ hai năm trước.

-Quư Hợi (1743) Loạn lạc nổi lên khắp nơi trong nước, mạnh nhất là Nguyễn Hữu Cầu ở Hải Dương. Quân triều đ́nh đi đánh dẹp rất khó khăn, nhiều lần thua trận, thiệt hại rất nhiều. Trịnh Doanh sai Hoàng Công Kỳ chỉ huy bộ binh, Trần Cảnh chỉ huy thủy binh đi đánh...nhiều lần mắc mưu của Nguyễn Hữu Cầu, bị vây hàng tuần. Về sau chúa Trịnh cho Hoàng Ngũ Phúc là một hoạn quan đem quân hợp với hai đạo quân của Hoàng Công Kỳ và Trần Cảnh, mới đánh tan được giặc.

-Ất Hợi (1755) –Tháng 3, Trịnh Doanh tự phong làm Thượng sư thượng phụ Anh đoán văn trị vơ  công Minh Vương. – Mùa Xuân năm Ất Hợi (1755), tướng thống suất của chúa Nguyễn là Thiện Chính kéo quân về đồn Mỹ Tho, người Côn Man (thiểu số) theo ông về đó, đến Vô Khoa Ân (địa danh) th́ bị Chân lạp chận đánh úp, Thiện Chinh gặp phải địa thế bụi rậm, vũng lầy nên không cứu được Côn man. Nguyễn Cư Trinh bèn dẫn quân đến, cứu thoát được hơn 5.000 người Côn Man gồm trai, gái, già, trẻ. Ông đưa họ đến núi Bà Đen (Bà Đinh). Chúa Nguyễn được tin, giáng Thiện Chính xuống làm cai đội và đưa Trương Phúc Du lên thay. Nguyễn Cư Trinh dùng người Côn Man làm tiên phong đi đánh Chân Lạp ở Cầu Nam và Nam Vang. Nặc Nguyên chạy về Hà Tiên đứng ra xin với chúa Nguyễn được đầu hàng và xin dâng đất Tầm Bôn và Lôi Lạp (tức vùng Tân An, G̣ Công) cùng đền bù laị tất cả những cống phẩm đă thiếu từ ba năm trước...

-Đinh Hợi (1767), thời Lê Hiển Tông, giao cho người Nùng ở Thái Nguyên khai thác mơ và rừng quế, rồi đóng thuế cho nhà nước. Người Nùng mời người Trung quốc (nhà Thanh) vào khai thác nhân cơ hội đó, người Tàu tràn sang nước ta rất nhiều, đa số là bọn vô lại, hung hăn, giết người không gớm tay. Chúng lùng sục khắp nơi để t́m mơ...và khai thác quặng mỏ (vàng, bạc, đồng,v.v...) chở về Trung Quốc, quan quân của ta không kiểm soát được. Viên quan của ta ở Thái Nguyên là Ngô Thời Sĩ đă làm tờ tŕnh phân tích việc lợi hại gởi về cho triều đ́nh đề nghị gởi văn thư cho quan nhà Thanh ở Quảng Đông, Quảng Tây xem họ có cấp giấy cho những người Tàu qua nước ta hay không. Quan nhà Thanh ở lưỡng Quảng trả lời họ không cấp giấy cho người nào vào nước ta. Ngô Thời Sĩ bèn đề nghị ra lệnh cho những người nầy cắt tóc, mặc áo quần, theo phong tục nước ta và làm sổ sách khai tên họ vào sổ dân nước ta, đồng hóa họ, bắt đóng thuế và tôn trọng pháp luật của ta. Trịnh Doanh đồng ư nhưng chưa kịp thực hiện th́ Trịnh Doanh mất nên phái đoàn Ngô Thời Sĩ phải trở về...

-Tháng 3, quân  Diến Điện đánh Xiêm La, con vua Xiêm chạy sang Chân Lạp và Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ sợ quân Diến Điện xâm lấn biên giới nước ta, bèn cho thuộc tướng là Trần Đại Lực đem quân pḥng bị vùng biển và đất biên giới. – Tháng 5, Nguyễn Cư Trinh, danh tướng của chúa Nguyễn mất. Nguyễn Cư Trinh là người mưu trí, ngay thẳng, có tài văn chương,11 năm có công mở mang đất đai, giữ yên biên giới nên được tặng Tá lư công thần chính trị thượng khanh. Thời Minh Mạng được phong Tân minh hầu, được thờ ở Thái miếu. 

-Trịnh Doanh mất, thọ 48 tuổi, con là Trịnh Sâm nối ngôi, tự phong làm Nguyên soái, tổng quốc chính, Tĩnh Đô vương. Con cháu nhà Lê là Lê Duy Mật chiếm vùng Trấn Ninh giáp giới Thanh Hóa chống lại nhà Lê đă lâu. Nay nghe tin Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm mới lên ngôi chúa, bèn đem quân tấn công các nơi vùng đồng bằng. Trịnh Sâm lo sợ, bèn cho Bùi Thế Đạt đem quân đi đánh và ra lệnh cho các quan ở vùng Thanh, Nghệ phong tỏa đường biển, đường núi để chận đường tiếp tế cho Lê Duy Mật.-Tháng 8, em của Trịnh Sâm là Trịnh Lệ âm mưu lật đổ Sâm, có người trong nhóm làm phản, báo cáo với Trịnh Sâm, việc thất bại. Trịnh Lệ bị bắt giam và đồng bọn dự mưu trong đó có Phạm Huy Cơ, thầy dạy của Lệ, đều bị tội. –Trịnh Sâm dùng Nguyễn Nghiễm (cha của Nguyễn Du), Lê Quư Đôn, Phan Lê Phiên...là những người có học rộng, vào các chức vụ quan trọng trong phủ chúa Trịnh.-Tháng 10, Hoàng Văn Chất nổi loạn cướp phá Hưng Hóa và Thanh Hóa....

-Kỷ Hợi (1779), tháng 7, Hoàng Văn Đồng là người thiểu số ở vùng Tuyên Quang được cha truyền con nối làm tù trưởng ở vùng đó và độc quyền khai mơ, đóng thuế cho triều đ́nh. V́ Lê Quư Đôn làm quan ở đấy bắt giam, hạch tội thiếu thuế và đ̣i nộp 3.000 lạng bạc hối lộ mới tha. Đồng đút lót cho người cai ngục, trốn thoát và tụ tập dân thiểu số nổi loạn, gặp lúc giặc biển vùng Đông Nam nổi lên quấy phá khắp nơi nên lực lượng của Đồng phát triển rất nhanh, tự xưng hiệu là Tân vương. Chúa Trịnh sai Nguyễn Lệ (anh Nguyễn Du) trấn thủ Sơn Tây, thống lănh các lực lượng quân đội vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn...tiến đánh. Hoàng Văn Đồng trốn vào rừng, quân triều đ́nh phá hết thành lũy, dinh cơ của Đồng. Về sau, Hoàng Văn Đồng xin ra đầu thú, được triều đ́nh tha tội.

-Tháng 3 năm Kỷ Hợi (1779), sau khi chiếm lại đất Gia Định,  Gia Long  sai Lê Phúc Điển bí mật ra Quảng Trị đón mẹ vào Gia Định. Kể từ khi quân Tây Sơn chiếm Phú Xuân, mẹ của Gia Long trốn về ẩn náu tại quê ngoại (làng An Du, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị). 

-Tân Hợi (1791) Gia Long lo mở mang miền Nam, tổ chức hành chánh, đặt quan cai trị, huấn luyện quân đội, lập xưởng đúc súng, xưởng đóng tàu, kiểm soát cửa biển, mở mang nông nghiệp, thương nghiệp, đặt ra các loại thuế ruộng đất, thuế buôn bán...đặt Tôn Thất Hội chỉ huy Tiền quân, Vơ Tánh chỉ huy hậu Quân, Nguyễn Văn Thành chỉ huy Trung quân...-Thái tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm (Minh Mạng) sinh tại xóm Tân Lộc, phía hữu thành Gia Định vào tháng 4 năm Tân Hợi (1791) con của bà thứ phi họ Trần (là con gái của Lễ bộ Tham tri Trần Hưng Đạt).

-Quư Hợi (1803), Gia Long cho đúc 9 khẩu súng đại bác đặt ở kinh thành đặt tên Xuân, Hạ, Thu, Đông, Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy mỗi khẩu nặng trên 17.000 cân ta. Về sau đặt tên súng là “thần oai vô địch thượng tướng quân”.-Sai xây lại thành Thăng Long, mở rộng thêm và làm kiên cố hơn. Người Mọi Đá Vách ở Quảng Ngăi làm loạn, sai Lê Văn Duyệt đi đánh dẹp.  Vua cho rước mẹ từ Gia Định về kinh đô Phú Xuân. Các quan  Tây Sơn như Ngô Thời Nhiệäm,. Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan bị bắt, giải về Bắc thành (Thăng Long), đem đến phủ Phụng Thiên (trường quốc tử giám của nhà Lê) để luận tội. Các quan theo Gia Long bàn tha tội chết, nhưng bị đánh đ̣n. Đặng Trần Thường có tư thù với Ngô Thời Nhiệm nên ra lệnh đánh đ̣n quá nặng khiến cho Ngô Thời Nhiệäm phải chết.-Khởi công xây dựng kinh thành Huế. Lập mẹ Hoàng tử Cảnh là Nguyên phi họ Tống  làm vương hậu. – Bắc thành dâng sớ xin làm lại sổ ruộng đất, kiểm tra dân số, chọn người tài, có học cho làm quan...-Hai nước Thủy xá và Hỏa xá đến Phú Yên xin quy phục.- Đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc thành- Nước Anh có sứ đến dâng lễ vật và xin lập phố buôn bán ở Trà Sơn tỉnh Quảng Nam, vua Gia Long không cho.-Vua đi ra Bắc, Nguyễn Công Trứ người huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là học tṛ, đón xe vua dâng điều trần (10 điều) – Sau khi thắng được Tây Sơn Gia Long sai Lê Quang Định làm chánh sứ qua báo cáo cho nhà Thanh biết và xin cầu phong, đến nay sứ bộ trở về, vào báo cáo t́nh h́nh  cho vua biết.

-Ất Hợi (1815) , tháng hai, vua  Gia Long tế trời đất ở Nam Giao. Hoàng hậu họ Tống (mẹ ruột của Hoàng tử Cảnh và mẹ nuôi của vua Minh Mạng) mất từ tháng hai năm trước, nay mới chôn vào lăng. Triệu Tổng trấn Lê Văn Duyệt ở Gia Định về kinh, cho Trương Tấn Bửu quyền Tổng trấn. Ban hành Quốc triều luật lệ (luật Gia Long) cho toàn dân. Vua Gia Long đă lớn tuổi mà chưa chọn Đông cung thái tử để nối ngôi, ư vua muốn chọn Hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm (vua Minh Mạng sau nầy), nhưng Nguyễn Văn Thành chủ trương nên chọn con của Hoàng tử Cảnh  là Hoàng tôn Đán (cháu nội vua) để giữ chính thống ḍng trưởng. Có người nói với vua rằng “Thành muốn dựng vua nhỏ tuổi để sau nầy dễ khống chế”...Từ đó giữa vua Gia Long và Nguyễn Văn Thành dần dần xa cách. Thành có người con là Nguyễn Văn Thuyên, giao thiệp bạn bè có làm bài thơ gởi cho bạn bè ở Thanh Hóa. Nguyễn Trương Hiệu đem bài thơ nầy báo cáo với Lê Văn Duyệt và kết tội Nguyễn Văn Thuyên có ư bội nghịch. Việc tŕnh lên vua Gia Long, vua xem bài thơ và nói rằng “sự trạng chưa được rơ rệt” rồi trả lại  bài thơ cho Nguyễn Trương Hiệu nhưng y cứ giữ bài thơ làm bằng chúng và cố t́m cho được người làm chứng để buộc tội Thuyên...Thuyên bị bắt nhưng vua cũng tha. Bọn Hiệu đ̣i phải đưa Đỗ Văn Chương ở Gia Định về kinh để đối chất, cố buộc tội Thuyên cho được...Sự việc khiến về sau Nguyễn Văn Thuyên bị tù và Nguyễn Văn Thành phải tự tử!

-Đinh Hợi (1827) dưới triều vua Minh Mạng, trong nước nhiều thiên tai, băo lụt, vỡ đê nhiều nơi, mất mùa, dân đói khổ nên giặc giă nổi lên khắp nơi nhất là tại miền Bắc trong số đó, giặc Phan Bá Vành là quan trọng nhất. Vua sai Phạm Văn Lư và Nguyễn Văn Phong đem quân đi đánh, giặc thua chỗ nầy, chạy qua chỗ khác, từ vùng Đồ Sơn, chạy qua cướp phá vùng biển Nam Định, Thái B́nh. Vua ra lệnh cho Tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận và Phó tổng trấn là Phan Văn Minh phải làm sao bắt cho được Phan Bá Vành. Nguyễn Công Trứ được lệnh đem quân ra tăng cường...Phan Bá Vành bị vây ở Trà Lũ lâu ngày, ban đêm định phá ṿng vây chạy ra biển. Phạm Văn Lư sai Phan Bá Hùng đem quân ngăn chận, đánh vào sào huyệt...Phan Bá Vành và đồng đảng bị bắt...

-Kỷ Hợi (1839) Trương Minh Giảng có công bảo hộ đất Chân Lạp (Miên), ổn định được t́nh h́nh, dân chúng được an cư lạc nghiệp, nên được vua Minh Mạng khen thưởng. -Vua tế Nam Giao thấy dân chúng tranh nhau đạp lên mồ mả hai bên đường để xem xe của vua đi qua. Vua ra lệnh cấm không được xúc phạm đến mồ mả và cho phép dân được đứng hai bên đường mà xem.-Bệnh dịch tràn lan ở Bắc Kỳ nhất là hai tỉnh Hải Dương và Bắc Ninh. -Vua được ngọc tốt bèn cho khắc quốc ấn h́nh vuông mỗi chiều dài 2 tấc 9 phân, cao 1 tấc 2 phân 3 ly với bốn chữ “Đại Nam Thiên Tử” làm ấn truyền quốc, để lại cho đời sau, khi có quốc thư hoặc có việc quan trọng mới dùng ấn ấy. -Vua cho phái đoàn đi qua Tây để thăm ḍ t́nh h́nh và mua tàu chạy hơi nước, vua đi chơi cầu sông Nhị Hà xem thí nghiệm tàu chạy hơi nước, thấy máy móc linh động, tàu chạy nhanh nhẹ, vua rất hài ḷng, bèn thưởng cho  người phụ trách điều khiển tàu là Hoàng Văn Lịch và  Vũ Huy Trinh...

-Tháng 5, năm Kỷ Hợi (1839), người theo đạo Gia Tô (đạo Thiên Chúa) ở Nam Định là Phạm Viết Huy và Bùi Đức Thể vào kinh đô khiếu nại rằng: “ông cha họ đă theo đạo từ lâu đời, năm ngoái do sự bắt ép của quan địa phương mà họ phải bước qua “thập giá” chứ không phải do ḷng họ muốn làm như vậy. Nay họ vẫn xin theo đạo, không thay dạ đổi ḷng, nếu vua bắt phải chết họ cũng không hối hận.” Quan tam pháp (ṭa án) tŕnh báo việc đó lên vua Minh Mạng. Nhà vua rất ngạc nhiên và ra lệnh đem họ ra băi biển, dùng búa lớn chặt ngang lưng, vứt xác xuống biển. Vua cho rằng đạo ấy là tà đạo, dụ dỗ người ta làm những điều xằng bậy, không có luân lư đạo đức...và ra lệnh cho các quan địa phương tra xét nếu ai c̣n trung thành với đạo Thiên Chúa th́ bắt họ phải chà đạp lên thập giá hai ba lần và phải tuyên bố bỏ đạo...ai trước đây đă bỏ đạo và đă bước qua thập giá rồi cũng bắt họ phải bước qua thập giá lần nữa. Ai bất tuân th́ bị đem ra giết...Nhân đó, vua ra lệnh cho các tỉnh miền Bắc lùng bắt cho được giáo sĩ tên “Dê du Ny Mô” hiện đang trốn tránh trong dân chúng...và ra lệnh cho các tỉnh miền Nam theo dơi, kiểm soát chặt chẽ những tín đồ đạo Thiên Chúa đang lẩn trốn...(trích Đại Nam Thực Lục Chính Biên , đệ nhị kỷ, Minh Mệnh năm thứ 20, do Quốc Sử Quán nhà Nguyễn biên soạn, bản dịch của Viện Sử học Hà Nội, xuất bản năm 1969, tr. 100- 101)  Tháng 10 năm Kỷ Hợi (1839) , tỉnh Nam Định bắt được tên đạo trưởng (linh mục người Việt Nam) là Đinh Viết Dụ, Nguyễn Văn Xuyên...sai nhảy qua thập giá, chúng không chịu, quan tŕnh lên vua. Vua sai giết hết cả hai người và ban thưởng cho kẻ tố giác 600 quan tiền (tr.221)- Vua sai Đào Trí Phú và Nguyễn Tri Phương đi qua Lữ Tống (Manila) Tân Gia Ba (Singapore),v.v. để mua hàng hóa và ḍ xét t́nh h́nh, t́m hiểu phong tục các nước Tây phương. Vua cũng cho đóng tàu 1ớn chạy bằng hơi nước, tốn hết 11.000 quan. Vua nói:“ Trẫm muốn những người làm thợ nước ta đều học tập máy móc được tinh xảo, cho nên không tính đến sự tốn kém.”

-Tân Hợi (1851) dưới thời vua Tự Đức, bên Trung quốc bị đói kém, bọn cướp tràn sang vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Yên phá phách dân lành...Quan nước ta tŕnh lên vua xin phối hợp với quân nhà Thanh để tiễu trừ. –Vua Tự Đức cho Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược sứ 6 tỉnh Nam kỳ.

-Quư Hợi (1863) Tháng hai, nước Pháp báo tin sứ bộ Pháp sẽ đến kinh thành. Vua cho Phạm Phú Thứ vào Gia Định hợp với Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp để bàn bạc với tướng nước Pháp. Phái đoàn của Bonard đến Đà Nẵng trước, sau đó đến Huế. Vua cho Trần Tiễn Thành, Thượng thư bộ Binh cùng phái đoàn Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ lo việc tiếp đón, đăi tiệc và thương thuyết với Pháp. Pháp hứa trả lại tỉnh Vĩnh Long cho ta. Vua cho Phan Thanh Giản cùng đi vào Gia Định để nhận lại tỉnh Vĩnh Long. -Vua sai Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản đi sứ qua Pháp để xin chuộc lại ba tỉnh Biên Ḥa, Gia Định và Định Tường...Ḥa ức năm 1862 kư kết với Pháp, vua băi bỏ lệnh cấm đạo nhưng vẫn cho rằng tín đồ đạo Thiên Chúa vẫn c̣n “mê tín” tin theo “tà thuyết” nên ra lệnh cho các quan phải t́m cách khuyên bảo dân bỏ đạo ấy. -Tướng Bonard ở Gia Định về  nước, De la Grandierre qua thay. –Giặc biển ở ngoài Bắc và bọn cướp biển từ Trung quốc sang xâm nhập khắp nơi, cướp phá dân lành, quan quân ta vất vả đi đánh dẹp.

-Ất Hợi (1875), tỉnh Quảng Yên bắt được 100 tên giặc cướp; huyện lỵ Tŕnh Cố ở Thanh Hóa năm trước bị bọn giặc bên Tàu qua chiếm đóng nay lấy lại được. Cho Ông Ích Khiêm đem quân ra Bắc dẹp loạn. Bọn giặc nhà Thanh là Bành Văn Nhị (cờ trắng), Hoàng Sùng Anh (cờ vàng) và Lưu Vĩnh Phúc (cờ đen) gọi là Tam tài tràn qua nước ta, cướp phá miền Bắc. Vua sai Ông Ích Khiêm, Hoàng Kế Viêm và Tôn Thất Thuyết hợp nhau đi đánh dẹp. Về sau bọn Lưu Vĩnh Phúc (cờ đen) về hợp tác với triều đ́nh, được cho quan chức và sai Lưu Vĩnh Phúc đi đánh Hoàng Sùng Anh (cờ vàng).  Quân ta hợp với quân nhà Thanh cùng đánh, nên Hoàng Sùng Anh thua, toàn bộ đảng của hắn bị tan ră, tháng 8 năm đó, Hoàng Sùng Anh bị quân ta bắt sống ở Tuyên Quang .-Pháp và Việt Nam họp bàn về việc đặt quan Khâm sứ tại Huế.-Sứ nước Pháp là Rhénard đến Huế.-Nguyễn Văn Tường (Thượng thư, cơ mật viện đại thần) đến Thương Bạc gặp Khâm sứ Pháp là Bonard  để nhận bản hiệp ước gồm 29 khoản đă được vua nước Pháp phê chuẩn. Nguyễn Văn Tường tŕnh lên vua Tự Đức phê chuẩn và thi hành.-Đê Văn Giang ở Hưng Yên bị vỡ nhiều lần v́ băo lụt, vua ra lệnh cho xây lại.

-Đinh Hợi (1887): sau biến cố 1885, kinh thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết pḥ vua Hàm Nghị chạy ra Quảng Trị, lên chiến khu Tân Sở, rồi ra ẩn náu ở vùng núi huyện Tuyên Hóa (giáp giới Quảng B́nh – Hà Tĩnh), truyền hịch cần vương, b́nh Tây, sát Tả (chủ trương đánh Pháp, giết người theo đạo Thiên Chúa)...Thuyết cho con và em ở lại bảo vệ vua Hàm Nghi, rồi qua Trung quốc cầu viện nhà Thanh và chết già ở đó. Nguyễn Văn Tường ra đầu thú với Pháp và sau đó bị đày qua đảo Tahiti cùng với Tôn Thất Đ́nh (cha của Tôn Thất Thuyết). Nguyễn Hữu Độ và Phan Đ́nh B́nh từ Bắc vào đă thương lượng với Pháp đưa người con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là Ưng Đường (Ưng Kỵ), lên làm vua niên hiệu Đồng Khánh. Nguyễn Hữu Độ và Phan Đ́nh B́nh được vua Đồng Khánh cử làm Phụ chính đại thần, cố mạng lương thần (người tôi trung và tốt lành được vua cha gởi con lại nhờ giúp đỡ)...Các phong trào ủng hộ vua Hàm Nghị (Cần vương, Văn thân) vẫn c̣n hoạt động ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ...Nguyễn Thân (sơn pḥng sứ Quảng Ngăi) phối hợp với Pháp đánh dẹp phong trào Cần vương của  Nguyễn Hiệu ở Quảng Nam; Trần Bá Lộc đánh Mai Xuân Thưởng ở B́nh Định,v.v...

-Chiến lũy Ba Đ́nh:  Từ năm 1885, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt và Đinh Công Tráng lập chiến khu ở Ba Đ́nh (ba ngôi đ́nh liền nhau của ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh và Mỹ Khê, thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, chung quanh là đầm lầy sâu đến 2, 3 thước, chỉ có một con đường độc đạo đi vào). Quân Pháp nhiều lần đến đánh bị tổn thất rất nhiều mà không phá được chiến lũy nầy. Quân kháng chiến Việt Nam cầm cự gần ba năm. Pháp phải huy động toàn bộ lực lượng quân sự hai tỉnh Nam Định, Ninh B́nh, bao vây hơn hai tháng, đánh nhau từ tháng Chạp năm trước đến đầu năm sau (Đinh Hợi, 1887), Pháp dùng đại bác bắn vào vẫn không phá được lũy. Sau cùng, chúng bắt dân đi trước, mỗi người lính mang một bó củi để đỡ đạn, liều chết lội xuống bùn, đắp một con đường... Ở trong bắn ra, dân chết đến 500 người, quân Pháp vẫn tiến vào...Quân kháng chiến liệu không giữ được bèn phá ṿng vây chạy thoát ra ngoài. Pháp tiến vào đốt hết lương thực, nhà cửa, tịch thu súng đạn...Pháp bắt được con của Phạm Bành là Phạm Tiên, hẹn 10 hôm, nếu Phạm Bành không ra hàng th́ sẽ đem Tiên ra bắn. Tháng 4, Đinh Hợi (1887) Phạm Bành ra đầu thú, Tiên được tha. Ngay tối hôm đó, Phạm Bành thắt cổ tự tử. Phạm Bành trước là quan Án Sát. Hoàng Bật Đạt (trước là Tri huyện) cũng bị bắt và bị xử tử. –Nguyễn Cao (trước làm Bố Chánh ở Thái Nguyên), từ 1883 nhân Bắc Kỳ bị Pháp chiếm, ông bỏ nhiệm sở theo phong trào chống Pháp. Sau 1885, về nhà dạy học...Tháng 4, 1887 bị tố cáo là theo Hàm Nghi nên bị Pháp bắt, không chịu nhục, lấy móng tay móc lũng bụng, lôi ruột ra ...chết.

-Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận...tất cả 11 người trong đảng Cần Vương năm 1885, bị bắt ở B́nh Định, đều bị xử chém.-Tháng tư, Đinh Hợi, Pháp bắt được Phan Văn Thông, anh ruột Phan Đ́nh Phùng (tham tán của lực lượng Phan Đ́nh Phùng) đem chém. Nguyễn Thân bắt được mẹ của  Nguyễn Hiệu (đảng Cần Vương ở Quảng Nam) và kêu gọi Nguyễn Hiệu ra đau hàng. Ở Nghệ An bắt được Nguyễn Xuân Ôn (đảng Cần vương ở Nghệ Tĩnh)...

-Kỷ Hợi (1899) Phan Đ́nh Phùng vẫn c̣n hoạt động ở các tỉnh Quảng B́nh, Hà Tịnh, Nghệ An, Thanh Hóa, lập chiến khu ở vùng núi Vụ Quang (Hà Tịnh) tồn tại được mười mấy năm trời. Cao Thắng giúp Phan Đ́nh Phùng, mặc dù không có máy móc vẫn đúc được súng theo kiểu 1874 của Pháp. Năm Kỷ Hợi là thời điểm Phan Đ́nh Phùng đang bị Pháp bao vây, lùng sục, t́nh thế càng ngày càng khó khăn hơn.

-Cũng trong năm Kỷ Hợi (1899) nầy, Hoàng Hoa Thám xin hàng. Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám) hoạt động ở Yên Thế (Bắc Ninh nay thuộc Bắc Giang), ảnh hưởng lớn trong vùng biên giới Việt-Hoa, gây cho Pháp nhiều khó khăn. Nhưng trong thời điểm nầy,  Pháp siết chặt ṿng vây nên nhiều lần Hoang Hoa Thám xin hàng để nghỉ ngơi, rồi lại rút vào  rừng...Việc xin hàng nầy cũng như là một đề nghị đ́nh chiến mà thôi...

-Tân Hợi (1911) Năm nầy cuộc cách mạng lật đổ nhà Thanh tại Trung quốc do Tôn Dật Tiên lănh đạo thành công đă ảnh hưởng nhiều đến các nhà cách mạng Việt Nam lưu vong cũng như ở trong nước.

-Năm 1911 (Tân Hợi) Hoàng Hoa Thám lại xin hàng nhưng toàn quyền Albert Sarraut không cho. Pháp mua chuộc Lương Tam Kỳ là người Tàu thường liên lạc với ông để lập mưu giết ông. Năm 1913, Hoàng Hoa Thám bị Lương Tam Kỳ ám sát để lănh thưởng 25.000 đồng (tiền thời đó) do người Pháp hứa trả cho y.

-Quư Hợi (1923) Thời gian Maurice Long làm Toàn quyền tại Đông Dương thay thế Albert Sarraut. Sau đó, Martial Merlin thay thế Maurice Long, với chính sách cai trị hẹp ḥi, áp bức dân thuộc địa. V́ vậy, năm 1924, Phạm Hồng Thái đă đến Sa Điện (lănh thổ Trung quốc) tổ chức ám sát Merlin nhân dịp Merlin đến đây. Việc bất thành, Phạm Hồng Thái nhảy xuống sông tự tử.

-Ất Hợi (1935): Đảng Cộng Sản ra đời năm 1930 và năm 1935 là năm đảng nầy đang hoạt động mạnh tại Đông Dương. T́nh h́nh kinh tế trong nước đang gặp khó khăn, quan cai trị lại càng ra sức bóc lột nên dân chúng càng đói khổ hơn nữa.

-Đinh Hợi (1947) Pháp không chịu điều đ́nh với Hồ Chí Minh. Giải pháp Bảo Đại ra đ̣i.

-Sau Tết Đinh Hợi (22-01-1947), ngày 07 tháng 2-1947 , quân Pháp từ Đà Nẵng đổ bộ bến Cầu Hai, từ phía Nam tiến ra chiếm đóng thành phố Huế; trong khi đó, một cánh quân khác từ  Lào qua ngơ Khe Sanh tiến chiếm Đông Hà, Quảng Trị và tiến về Huế tăng cường cho lực lượng Pháp tại đây.-Bolaert, nghị sĩ thuộc đảng Xă Hội Pháp được cử sang làm Cao Ủy Pháp tại Đông Dương thay thế d’Argenlieu, ngày 01/04/47, Bolaert đến Sài G̣n. Quân Pháp lần lượt chiếm các thành phố miền Bắc Trần Ngọc Danh, đại diện Hồ Chí Minh tại Paris đề nghị ngưng bắn để điều đ́nh. Bộ trưởng Hoàng Minh Giám của Việt Minh ngỏ ư sẵn sàng điều đ́nh, nhưng Pháp đ̣i phải nộp 50% khí giới và trả tự do cho những người Pháp bị Việt Minh bắt th́ mới chịu cho thương thuyêt. Để đối phó với t́nh trạng khủng bố, ám sát, bắt cóc những người “không Cộng Sản” và dân lành vô tội do Việt Minh chủ trương và để tránh cho dân lành bị quân Pháp giết hại:-Tại Huế, ngày 12/04/47, một Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời do cụ Trần Văn Lư làm Chủ Tịch để đứng ra thương lượng với người Pháp cho lập các cơ quan hành chánh của Việt Nam để tiếp nhận những vùng do quân đội Pháp chiếm đóng và kiểm soát. -Tại Hà Nội, Pháp cũng lập ra một Ủy Ban Lâm Thời Hành Chánh và Xă Hội (thường gọi là Hội Đồng An Dân) do BS Trương Đ́nh Chi làm Chủ tịch. Pháp dần dần chuyển giao các thành phố tại miền Bắc do Pháp chiếm đóng cho Hội Đồng An Dân. -Tại Sài G̣n, Pháp lập một chính phủ Nam Kỳ tự trị do BS Nguyễn Văn Thinh làm Thủ Tướng. Bolaert tuyên bố các nước Đông Dương tham gia trong Liên Hiệp Pháp. Những người quốc gia không Cộng Sản vận động “giải pháp Bảo Đại” và đề nghị Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam qua một chính quyền do Bảo Đại lănh đạo. Các tôn giáo và đảng phái chính trị (không Cộng Sản) lên tiếng ủng hộ Bảo Đại. Lúc bấy giờ Bảo Đại đă qua Côn Minh gặp Tưởng Giới Thạch, sau đó, trở về Hồng Kông tuyên bố sẵn sàng tiếp đại diện các tôn giáo, đảng phái từ trong nước để thảo luận t́m một giải pháp cho Việt Nam. 

 

-Ngày 20/7/1947, Hồ Chí Minh cải tổ Chính phủ:

-Chủ Tịch nước:...................Hồ Chí Minh

-Cố Vấn:...............................Vĩnh Thụy (lúc đó khôgn c̣n ở tại Việt Nam)

-Thứ trưởng Phủ Chủ Tịch: BS Phạm Ngọc Thạch

-Thứ trưởng Nội Vụ:..........Trần Duy Hưng

-Bộ trưởng Ngoại Giao:...  Hoàng Minh Giám

-Bộ trưởng Quốc Pḥng:... Tạ Quang Bửu

-Bộ trưởng Tài Chánh:.......Lê Văn Hiến

-Thứ trưởng Tài Chánh:.....Trịnh Văn Bính

-Bộ trưởng Tư Pháp:..........Vũ Đ́nh Ḥe

-Thứ trưởng Tư Pháp:........Trần Công Tường

-Bộ trưởng Kinh Tế:..........Phan Anh

-Bộ trưởng Canh Nông:.....Ngô Tấn Nhơn

-Thứ trưởng Canh Nông:...Nghiêm Xuân Yêm

-Bộ trưởng Y Tế:.............. Hoàng Tích Trí

-Thứ trưởng Y Tế:.............Tôn Thất Tùng

-Bộ trưởng Lao Động:.......Nguyễn Văn Tạo

-Bộ trưởng Cứu Tế XH:....Chu Bá Phượng

-Bộ trưởng Giáo Dục:.......Nguyễn Văn Huyên

-Thứ trưởng Giáo Dục:.....Nguyễn Khánh Toàn

-Bộ trưởng Cựu Chiến Binh:...Vũ Đ́nh Tụng

-Thứ trưởng Cựu Chiến Binh:...Ngô Tử Hạ

-Bộ trưởng không giữ bộ nào:...Nguyễn Văn Tố, Đặng Văn Hướng, Bồ Xuân Luật

Huế và Hà Nội biểu t́nh lớn ở Huế ủng hộ Bảo Đại

-Ngày 09/09/47,  24 đại diện đoàn thể chánh trị sang Hồng Kông yêu cầu Bảo Đại đứng ra thương lượng với Pháp. Bảo Đại tuyên bố :“ Trước đây, tôi đă từ bỏ ngai vàng v́ hạnh phúc của toàn dân; nay nếu dân lại muốn tôi đứng ra để điều đ́nh với Pháp, th́ tôi cũng sẵn ḷng đ̣i hỏi Độc Lập và Thống Nhất, hợp với nguyện vọng của dân”. -Trước đây người Pháp đưa BS Nguyễn Văn Thinh lên làm Thủ Tướng Chính phủ Nam Kỳ. Được ít lâu, BS Nguyễn Văn Thinh tự tử nên BS Lê Văn Hoạch lên thay. -- Ngày 29/09/47, BS Lê Văn Hoạch từ chức

 –Ngày 01/10/47, Hội Đồng Nam Kỳ bầu Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng.

 –-Ngày 10/10/47, BS Trương Đ́nh Chi, Chủ Tịch Hội Đồng An Dân tại Bắc Việt bị ám sát tại Hà Nội.- Quân Pháp lần lượt chiếm đóng các thành phố trên toàn miền Bắc.

-Ngày 06/12/1947, Bảo Đại gặp Bolaert tại Vịnh Hạ Long trong hai ngay để thảo luận các giải pháp cho Việt Nam. Sau đó, Bolaert về Pháp tường tŕnh lại kết quả hội đàm với Bảo Đại cho chính phủ Pháp.-Ngày 19/12/1947, Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân qua Hồng Kông gặp Bảo Đại, tuyên bố không chống lại chủ trương thống nhất Việt Nam  (Trung, Nam, Bắc) của Bảo Đại (Sau nầy, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân đứng ra lập một chính phủ Trung Ương gồm đại diện nhân sĩ cả ba miền Trung Nam Bắc và Bảo Đại đă gởi một thông điệp tán thành việc thành lập chính phủ nầy “để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận quốc tế” trước khi có hiệp định kư kết giữa Chính phủ Pháp và Bảo đại tại Elysée ngày 8/03/1949 trao trả độc lập cho Việt Nam). –Tháng 01/ 1947 Bolaert (các tháng cuối năm Đinh Hợi) Bảo Đại và Bolaert tiếp tục họp về vấn đề Việt Nam tại Genève, sau đó c̣n tiếp tục họp tại Vịnh Hạ Long.

-Kỷ Hợi (1959) Tết nguyên đán Kỷ Hợi vào ngày 08/02/1959. Ngày 16/02/1959, Đức Hồng Y Agagianian, đại diện Giáo Hoàng Gioan 23 đến Sài G̣n  khai mạc đại hội Thánh Mẫu toàn quốc từ 16 đến 18/2/1959. Nhà thờ Đức Bà tại Sài G̣n được nâng lên hàng Vương cung thánh đường (Basilica). Ngày 21/02/1959, Bộ Giáo Dục VNCH ra sắc lệnh (S.L 51/GD) thành lập các trường Đại Học Văn Khoa, Luật Khoa, Sư Phạm và trường Cao Đẳng Mỹ Thuật thuộc Viện Đại Học Huế .- 18/3/1959, Tổng Thống Ấn Độ Prasad tới thăm Sài G̣n. -10/04/59 Bộ Ngoại Giao VNCH xác nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc VN.-22/4/59 Tổng Thống Phi Luật Tân sang thăm VN- 02/7/59 CT Hồ Chí Minh sang thăm Nga.- 03/8 /59 Thái tử Sihanouk sang thăm VN.-07/8/1959, khánh thành đường xe lửa Saigon-Quảng Trị.- ngày 21/8/59 Bộ Giáo Dục VNCH kư nghị định  thành lập trường Đại Học Y Khoa Huế (NĐ 340/GD) và ngày 8/10/59 kư ghị định thành lập Viện Hán Học Huế (NĐ 389/GD).- Cuộc bầu cử DB Quốc Hội ngày 30/8/59, các ứng cử viên đối lập là Phan Quang Đán và Phan Khắc Sửu dẫn đầu phiếu tại Sài G̣n nhưng bị chế độ của TT Ngô Đ́nh Diệm cho là “bất hợp lệ” và bị loại trừ. Sau đó, cả hai ông nầy đều bị bắt giam v́ hoạt động đối lập. Sau khi TT Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ (01/11/1963) họ mới được tự do

-Tân Hợi (1971): Từ tháng 3/1970, Lon Nol làm đảo chánh lật đổ Sihanouk. Sihanouk chạy qua tạm trú tại Trung Cộng, kêu gọi kháng chiến chống Lon Nol và Mỹ. Phong trào khủng bố người Việt nổi lên ở Kampuchia, người Việt làm ăn lâu đời ở Kampuchia phải chạy về nước (chính phủ VNCH lập làng định cư cho Việt kiều Kampuchia hồi hương). Quân đội VNCH  do Tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân đoàn III mở cuộc hành quân lớn với 25.000 người có không quân yểm trợ. Mấy tháng sau, Tướng Đỗ Cao Trí bị tử nạn máy bay trực thăng tại phi trường Tây Ninh khi ông lên máy bay đi thị sát các cuộc hành quân tại Kampuchia.-Cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Quảng Trị do Tướng Hoàng Xuân Lăm, Tư lệnh Quân đoàn I chỉ huy, đánh qua lănh thổ Lào phía Tây Trường Sơn, thất bại, hai bên đều tổn thất lớn. Có dư luận cho rằng “kế hoạch hành quân đă bị Việt Cộng biết được”?–Mỹ tái oanh tạc Bắc Việt rất dữ dội, chỉ trong 100 giờ bằng 26 tháng trước đó.-Mỹ tuyên bố “Việt Nam hóa chiến tranh” và bắt đầu rút quân từ 280.000 người lúc đầu, giảm xuống c̣n 159.000. -Tại Sài G̣n, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành các biện pháp “thất nhân tâm” như tăng thuế, kiểm soát báo chí, mua chuộc Quốc Hội làm ra luật bầu cử Tổng Thống năm 1971, quy định những điều kiện “vô lư” để ông Thiệu không có đối thủ...Kết quả “không có ai nạp đơn ra ứng cử Tổng Thống” và Liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Trần Văn Hương ra ứng cử “độc diễn” làm mất niềm tin trong dân chúng, gây bất măn trong các tôn giáo và chính đảng. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nắm được đa số Dân Biểu, Nghị Sĩ trong Quốc Hội, đưa ra “luật ủy quyền” về kinh tế tài chánh và an ninh quốc pḥng...Nhưng ông đă lạm dụng luật nầy để đưa ra luật “tu chính về quy chế chính đảng” là luật đó lại thuộc lănh vực “định chế” theo quy định của Hiến Pháp, không thuộc lănh vực kinh tế tài chánh và an ninh quốc pḥng. TT Thiệu muốn đưa ra những điều kiện bất hợp lư để giải tán các chính đảng đă có một quá tŕnh đấu tranh. (như Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt,v.v...) và cho ra đời đảng Dân Chủ (đảng chính quyền và độc quyền)...TT Thiệu c̣n vận động Quốc Hội sửa đổi Hiến Pháp để ông có thể ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ thứ ba...Những việc làm đó đă tạo bất măn và gây chia rẽ giữa những người quốc gia với nhau, càng có lợi cho Cộng Sản.- Ḥa đàm Paris từ 1969 đi đến bế tắc...và sau nầy Mỹ đă kư kết với Hà Nội tại Paris hiệp định ngừng bắn (27/03/1973) “vô cùng bất lợi” cho VNCH, đưa đến chiến thắng của CS Bắc Việt trên toàn miền Nam ngày 30/4/1975.

-Ất Hợi (1995): -Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam . Chương tŕnh “ra đi có trật tự” (ODP) và chương tŕnh “định cư cho tù nhân chính trị” (H.O) tiếp tục được thực hiện từ 1990 đến nay, đa số những sĩ quan và viên chức thuộc VNCH bị tập trung cải tạo sau 30/4/1975 tại Việt Nam được định cư tại Mỹ.

-Đinh Hợi (2007): một năm hứa hẹn cho tương lai Việt Nam sau khi được gia nhập WTO.

GS Nguyễn Lư-Tưởng (sưu tầm)

 
   

© Báo  Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ư kiến, phê b́nh.

Địa chỉ liên hệ: Điện thoại: (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558 - Email: Danquyennews@aol.com