|
|
Có lẽ nói đến văn hoá làng, một nét văn hoá
của nông thôn Việt Nam, chúng ta liên tưởng ngay tới những hình
ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu tượng của làng quê. Đó là những
hình ảnh của "cây đa, bến nước, sân đình, bụi tre, vườn cây, ao
cá...".
Mái đình như
vậy đã có từ ngàn xưa, gợi nhớ một di tích cổ kính thân tình.
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm
2000, đình được định nghĩa là "Nhà công cộng của làng thời trước,
dùng làm nơi thờ thành hoàng và họp việc làng". Như vậy, đình
trước hết là một địa điểm mang nghi thức tôn giáo, sau đó mới là
nơi hội họp hoặc sinh hoạt mang tính cộng đồng. Hiển nhiên là,
đình phải là một công trình kiến trúc tiêu biểu, to lớn, đẹp và
trang nghiêm. |
 |
|
|
|
Cái đình trang
trọng và thiêng liêng là thế, nó gần như đại diện, là biểu tượng
của quyền lực làng xã. Nhưng đình làng lại là nơi tụ họp mọi
người trong mọi sinh hoạt chung, vốn rất cần cho cuộc sống nông
thôn cần có sự nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Đình lại
trở thành một nơi thân quen gần gũi với mọi người. Đình, đình
làng còn được mọi người gọi bằng cái tên trìu mến mái đình. Nói
đến mái là ta nghĩ tới những kết hợp từ như mái nhà, mái trường,
mái rạ, mái ấm tình thương... Nó là nơi che chở, là nơi ở, là
cuộc sống của mỗi người chúng ta. Nói tới mái đình, người Việt
đã làm cho ngôi đình tôn nghiêm trang trọng trở nên thân quen
gần gũi hơn:
Hôm qua tát
nước đầu đình
Để quên chiếc
áo trên cành hoa sen
(Ca dao)
Đình (ở giữa hay
đầu làng) là nơi thân quen, qua lại, gặp gỡ hàng ngày. Đình được
chọn làm hình ảnh để ví von về niềm thương nỗi nhớ: “Đình bao
nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu". Mái đình dài rộng, cong như
hình mũi hài, lợp bằng lớp lớp ngói âm dương (còn gọi là ngói ta).
Phải biết bao nhiêu viên ngói mới làm nên mái đình đẹp và vững
chãi. Vì vậy, người đời lấy nó để ví von về tấm lòng thương mến
của mình với người thân, như người ta ví von với lá rừng: "Đố ai
quét sạch lá rừng".
Mái đình như vậy
đã có từ ngàn xưa, gợi nhớ một di tích cổ kính thân tình. Mái
đình lại theo ta vào cuộc sống mới và hình ảnh đậm nét về nó
không hề phai nhạt trong cuộc sống của người Việt Nam hôm nay.
Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc nổi tiếng, khi nói về sự chia tay
giữa người ở chiến khu với người về Thủ đô khi kháng chiến chấm
dứt, đã có những dòng thơ thật xúc động:
Mình về mình
lại nhớ ta
Mái đình Hồng
Thái, cây đa Tân Trào
Hình ảnh mái
đình, cây đa cứ lặp đi lặp lại như một điệp khúc trong suốt bài
thơ, làm người đọc xốn xang về sự gắn bó giữa con người, cảnh
vật, quê hương, đất nước đã qua một thời chiến tranh gian khó. Ở
đây, mái đình, cây đa là nơi hội tụ bao kỉ niệm, bao niềm thương
nhớ. Mái đình năm xưa vẫn đẹp, và giờ đây càng đẹp hơn, đằm thắm
và sâu nặng nghĩa tình. Nhà văn Đoàn Giỏi, trong bài tuỳ bút
Măng tầm vông đã có những dòng thật cảm động, mô tả tâm trạng
của người con miền Nam tập kết ra Bắc, ngồi trên thuyền nhìn lại
xóm làng của mình lần cuối: “Tôi đứng mãi trên boong, chờ đợi
phút qua ngang nhà. Làng tôi, xanh ngắt những tàu dừa, tàu chuối.
Mái đình cháy hơn một nửa, nhô ra giữa rặng cây. Bờ tầm vông
thấp thoáng, ngọn tầm vông hoe vàng trong ánh nắng một chiều thu".
“Mái đình cháy
hơn một nửa" - vết tích của chiến tranh tàn phá, như một nỗi đau
gieo giữa lòng nhà văn, một người con sắp tạm rời xa xứ sở. Đấy
là nỗi đau đau đáu của dân tộc bao nhiêu năm.
Đó là một mảnh
hồn quê, làm nên nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in vào
tâm khảm mỗi con người và toả sáng trong những áng thơ văn.)
(Theo Nguoivienxu) |
|