|
|
Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa. Những
dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên đại khoảng
thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền
để dâng cúng vua thần Siva-Bhadresvara. Hơn hai thế kỷ sau đó,
ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong
một trận hỏa hoạn lớn.
Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi
đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay.
Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền
tháp mới để dâng lên các vị thần của họ.
Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ
thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc
quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ
Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva - Ðấng bảo hộ
của các dòng vua Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là
Bhadresvara - là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng
Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành
tín ngưỡng chính thờ thần - vua và tổ tiên hoàng tộc.
Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả
người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ XX, 2 nhà
nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và
nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để
nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho
đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và
nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.
Tiền thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo căn
bia để lại là một ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Diva
Bhadresvera. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ VI, một cơn hoả hoạn
đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa
học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều
đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của
dân tộc Chăm suốt từ cuối tế kỷ IV đến thế kỷ XV. Bằng vật liệu
gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng
lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Ðền
chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo. Bên cạnh
tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ
những vị vua đã mất. Mặc dù, thời gian cùng chiến tranh đã biến
nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc,
kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong
cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác
đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá kiến trúc Chămpa cũng
như của Đông Nam Á.
Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như
mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo
nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm
đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế
tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng
hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là
hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim
muông, voi, sư tử... động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống
con người.
Theo các nhà nghiên cứu tháp Chàm cổ, nghệ thuật kiến trúc
tháp Chàm tại Mỹ Sơn hội tụ được nhiều phong cách; mang tính
liên tục từ phong cách cổ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII; phong cách
Hoà Lai thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ IX; phong cách Ðông Dương từ
giữa thế kỷ IX; phong cách Mỹ Sơn và chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn và
Bình Ðịnh; phong cách Bình Ðịnh... Trong nhiều công trình kiến
trúc còn lại khi phát hiện (1898) có tháp cao tới 24m, trong khu
vực Tháp Chùa mà các sách khảo cổ, nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký
hiệu là tháp cổ Chămpa, có 2 cửa ra vào phía Ðông và phía Tây.
Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống cột ốp. Xung quanh có 6
tháp phụ, toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh sen. Tầng
trên, chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt
tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái.
Năm 1969, những ngôi tháp giá trị này đã bị không lực Mỹ huỷ
hoại trong chiến tranh.
Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu
biểu trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ
phụng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh
sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Ðà Nẵng xây dựng
thành bảo tàng kiến trúc Chămpa. Tuy không phải là nhiều, nhưng
những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu
biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, là những chứng tích
sống động, xác thực, lịch sử của một trong những dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá. |
|