Trang nhất
  Xã Luận
  Đọc Báo Trong Nước
  Truyện Ngắn
  Kinh Tế
  Âm vang sử Việt
  Tin Thể Thao
  Y Học
  Tâm lý - Xã hội
  Công Nghệ
  Ẩm Thực

    Diễn Đàn Biển Đông
Phản đối mạnh mẽ mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
    Hình Ảnh Quê Nhà - Video Clip
Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới
    Tin Thế Giới
Quân đội Iran công bố quyết định bất ngờ sau tuyên bố tiến hành 'một tuần tấn công liên tục'
    Tin Việt Nam
Việt Nam - Thái Lan hướng tới mốc thương mại 50 tỷ USD
    Tin Cộng Đồng
Chưa ghi nhận thương vong về người Việt trong trận động đất ở Philippines
    Tin Hoa Kỳ
Mỹ cải tổ hệ thống hải quan, siết chặt quản lý hoạt động nhập khẩu
    Văn Nghệ
Tìm kiếm thực lực kế thừa cải lương
    Điện Ảnh
TP Hồ Chí Minh quyết tâm xây dựng 'Thành phố điện ảnh' qua liên hoan phim
    Âm Nhạc
Lizzo đáp trả cáo buộc 'nói xấu' Taylor Swift
    Văn Học
Nhà nghiên cứu sẽ bị cấm vô thời hạn nếu đạo văn, dùng dữ liệu giả

Thông Tin Tòa Soạn

Tổng biên tập:
Tiến Sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt
Phụ Tá Tổng Biên Tập
Tiến Sĩ
Nhật Khánh Thy Nguyễn
Tổng Thư ký:
Quách Y Lành




   
Sinh thức Nguyễn Trãi
Trong sinh thức Nguyễn Trãi, ở tận cùng tư duy, chúng ta đã bắt gặp thi ca ƯcÙTrai có những điểm cho dù không hẹn nhưng đã gặp cùng thơ trù Trương Khải Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Xưỡng và Trần Minh Tông. Duy có một điều không thể bàn cãi, ở Nguyễn Trãi, thơ ông khắc khỏi ước mơ không chỉ riêng cho mình, mà cho cả dân tôc. Dân tộc dưới nhân sinh quan Nguyễn Trãi phải được độc lập, chủ quyền, công bằng và phát triễn.

 


Bên cạnh hoài bảo cho dân tộc, ở đầu, giữa và cuối dòng thơ Nguyễn Trãi, ngoài những lúc diễn tả tình cảm lãng mạn của tình yêu và tình quê hương, non nước, nhiều khi chúng ta bắt gặpï trong dòng thơ ấy có sức uy mãnh như dòng thác cuốn quân Minh, và ngọn giáo chém quân Tàu. Và nữa, ông tự hào về dòng sông Bạch Đằng không những chỉ ở yếu tố địa lý, hay sóng vỗ nước sâu hoặc gió to cá lớn. Mà vì, chính dòng sông ấy là mồ chôn quân giặc và đã làm nên những hào kiệt trên đất Nam ta:


Quan hà bách nh do thiên thiết


Hào kit công danh th đa tng


(Trích Bch Đng Hi Khu)


 


Tạm dịch


(Quan hà him yếu do tri đt


Hào kit lp công đt ny)


 


Bên cạnh những tác phẩm vĩ đại của Nguyễn Trãi, chúng ta bắt gặp ngòi bút ấy còn ẩn mình cùng cây cỏ, hoa lá. Đôi lúc ông cảm thấy chán chường cho bọn nịnh thần Lê Sát, phá vỡ mộng ước ban đầu của một trung quân, người công dân khai sinh chế độ nhà Lê. Nguyễn Trãi đã nhìn lại thời son trẻ một gánh sơn hà, trên vai trĩu nặng. Tất cả thơ ca Nguyễn Trãi đều mang chất quê hương, gắn bó từ luống hoa, bụi chuối, lùm mía hay cây đa già hoặc dòng sông v.v..


 


Mt cày, mt cuc thú nhà quê


Áng cúc lan chen vãi đu kê


(Thut hng, bài s 3)


 


Hn gi mng hn tìm quán cũ


Suông đem huyết l ra m xưa


(Quy Côn Sơn chu trung tác)


 


Áo quan th gi hai bè mung


Đt bt ương nh mt lnh mung (mùng)


(Thut hng bài s 23)


 


Đối với Nguyễn Trãi cây trúc và cây tùng là 2 biểu tượng mà ông đã sánh cùng và ví mình. Trước hết là trúc, trúc trong tiếng Hán người ta gọi là Thích Trúc tức cây tre có gai. Nhưng theo nghĩa bóng của trúc trong tiếng Việt chỉ người quân tử. Măng của tre hay trúc mọc thẳng đứng khi mới bắt đầu. Đây là đức tính của người quân tử luôn luôn đứng thẳng trước bảo táp của đời hay tiếng dèm pha đố kỵ. Một đặc điểm thứ 2, cho dù trúc hay tre khi bị đốt cháy, thân cây vẫn đứng thẳng chứ không gãy cong. Người quân tử cũng thế, khi bị hãm hại có chết vẫn chẳng cúi mình. Như 2 ví dụ: Một Từ Hải:


Râu hùm, hàm én, mày ngài


Vai năm tc rng, thân mười thước cao.


Đường đường mt đng anh hào


Côn quyn hơn sc, lược thao gm tài.


Đi tri đp đt đi


H T tên hi vn người Vit Đông


Giang h quen thói vy vùng


Gươm đàn na cánh, non sông mt chèo.


 


Khi cụ Nguyễn Du diễn tả nhân vật Từ Hải như trên, chúng ta thấy Từ Hải chính là con người của quyết định cho dù được hay mất. Ngay sau khi gặp Kiều ở chốn lầu xanh, Từ Hải yêu nàng tha thiết và đã đi đến quyết định:


Mt li đã biết đến ta


Muôn chung nghìn t cũng là có nhau.


 


Để rồi trước khi xông pha, Từ Hải đã nói với Kiều như một lời hứa hẹn:


Bao gi mười vn tinh binh


Tiếng loa rp đt, bóng tinh rp đường


Làm cho rõ mt phi thường


By gi ta s rước nàng nghi gia.


 


Thế nhưng vì chữ tình, Tử Hải đã nghe lời khuyên của Kiều mà ra hàng triều đình:


Thế công T mi tr ra thế hàng


 


Để rồi Từ Hải đã rước lấy cái chết thảm bại, nhưng đây là cái chết vì tình yêu của người quân tử, cho dù sa cơ thất thế nhưng vẫn đứng vững, không hề lay chuyển:


 


Khí thiêng khi đã v thn


Nhơn nhơn còn đng chôn chân gia vòng


Trơ như đá, vng như đng


Ai lay chng chuyn, ai rung chng di.


 


Cái chết của Từ Hải là cái chết rất người và hành xử một cách đại trượng phu, nên khi chết Từ Hải vẫn “trơ như đá, vững như đồng; ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng dời”.


Ấy là thái độ của người quân tử.


Thứ 2, ở cuối đời nhà Đông Hán vào thời Tam Quốc, nhân vật Quan Vũ được diễn tả là một quân tử mặt đỏ, râu dài tay cầm cây thanh long yến nguyệt đã bị Tôn Quyền sai 2 tướng nhà Ngô là Chu Nhiên và Mã Trung bắt. Sau vì không chịu khuất phục Tôn Quyền nên bị giết, khi chết Quan Vũ vẫn đứng thẳng người và mắt mở trừng trừng. Vì thế, từ xưa Tô Đông Pha cũng đã từng nói “thà ăn không có thịt cá, còn hơn ở mà lại thiếu trúc” ngụ ý của họ Tô cho rằng người quân tử từ chối lợi danh vẫn giữ được đời sống thanh bạch, lòng dạ thảnh thơi như cây trúc. Như thế cây trúc chính là biểu tượng của người quân tử mà Nguyễn Trãi đã tự đặt mình một cách khắc khe. Nói đến cây trúc, chúng ta nhớ lại thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa, ôngï Ngô Đình Diệm đã lấy biểu tượng cây trúc làm con dấu. Ngay cả thời xa xưa, dưới đời Đường chúng ta bắt gặp Lý Bạch cũng đã xiễn dương cây trúc “Tích tại Trường An, túy hoa liễu; Ngũ hầu thất quý đồng bôi tửu” nghĩa là: Ở Trường An, các nhà quyền quý đã ăn chơi say mê tửu lầu” nhưng không vì nơi ấy mà làm bẫn thân mình. Như thế, kẻ sĩ ví mình như cây trúc, cho dù bị cám dỗ, sống giữa những sa đọa, lợi danh, nhưng lòng kẻ sĩ vẫn đứng vững và không bị lôi cuốn. Như thế chúng ta thấy được logo cây trúc đã gắn liền cuộc đời của Nguyễn Trãi, ông chính là bậc quân tử ở mọi thời đại, nhìn sắc như không và luôn luôn đặt nhân nghĩa trung chính làm đầu. Dĩ nhiên tư tưởng Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng một phần ở Nho giáo và Khổng giáo. Trong đầu tiên và cuối cùng, từ Khổng giáo lấy sự học làm điều trọng yếu. Học là học đạo thánh hiền để hiểu nghĩa-lẽ-lý để hành xử trrong đời. Cho nên trong sách Lễ ký có nói rằng:” Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học, bất tri lý (bất tri đạo). Chính vì lẽ đó, cho nên Nguyễn Trãi đã coi nhẹ lời dèm pha của bọn loạn thần Lê Sát, đường ta cứ đi, việc ta cứ làm. Thói đời kẻ tiểu nhân luôn luôn ám hại người quân tử, nói xấu đặt điều. Nhưng sau cùng, khi kẻ tiểu nhân đã gieo gió thì phải gặt bảo. Ấy là quy luật tự nhiên. Những điều kẻ tiểu nhân gán ép cho người khác thì giờ đây chính mình nhận hậu quả. Ông bà ta ngày xưa thường hay nói : “Ông Trời xa mà gần”.


Ấy chính là nhân quả.


Trúc do “Trời” sinh ra, vậy Trời chính là Đức Chúa Trời. Mọi vật trên thế gian đều do Đức Chúa Trời tạo dựng. Và con người, trong đó có Nguyễn Trãi cũng thế. Chính vì quan niệm sinh ra do Trời tạo dựng, nên Nguyễn Trãi đã lấy cái đạo quân tử mà hành xử người đời, trung với nước và hiếu với dân. Nhất là đức tính vị tha ông luôn luôn nhắc nhở đến mọi người, kể cả Lê Sát ám hại tam tộc của mình ông cũng tha thứ trước giờ quy tiên. Đối với Nguyễn Trãi, ông quan niệm người quân tử phải vị tha, tu thân và tích đức. Muốn thế người quân tử phải học hỏi, học ở mọi người để sửa mình. Vì thế, sách vở đại học có nhắc nhở rằng:” Tự thiên tử dĩ chí ư chí nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản (Tự vua cho đến dân, ai cũng phải học sửa mình làm gốc). Nếu muốn sửa mình, ở người quân tử không cần đến thị phi, mà tâm luôn tịnh, coi những lời dèm pha như gió thoảng qua cầu, nhưng phải quyết tâm thực hiện ý của mình cho thành. Khi ý thành nghĩa là tâm đã nguyện và tiếng thị phi tự nó sẽ tan, lúc ấy kẻ tiểu nhân sẽ tự hủy diệt. Làm được điều ấy, nghĩa là mình không dối ta, ta không đối mình, hãy thành thật khen, chê, yêu, ghét. Tóm lại ý ta ra sao thì hãy thực thà bày tỏ, chứ hoàn toàn không điêu ngoa hay dối trá. Như thế mới gọi là khoái túc và, trong việc tu thân Tăng tử cũng đã nói:” Phú nhuận ốc, đức nhuận thân, tâm quảng thể bàng, cố quân tử tất thành kỳ ý” (giàu thì hiện ra ở nhà, có đức tốt thì hiện ra ở người, trong bụng quảng đãng thì thân thể ung dung, thư thái).


Ngoài biểu tượng cây “Trúc”, Nguyễn Trãi còn sánh mình như cây “Tùng”. Tùng là một loại cây thách đố thời gian, cho dù sương rơi hay tuyết phủ tùng vẫn chơ vơ chống chọi giữa trời, lá vẫn xanh, thân vẫn mạnh. Sau những năm tháng dài nằm gai nếm mật, đem tâm trí và sức lực phục vụ quốc gia, ông đã về ở ẩn tại Côn Sơn. Tại đây ông đã ví mình như một cây tùng thách đố tuyết sương:


Tuyết sương thy đã đng nhiu ngày


Lâm truyn ai rng già làm khách


 


Hay


 


Ci r bn đi chng đng


Tuyết sương thy đã đng nhiu ngày     


 


Thông thường tùng được mọc trên núi đá chênh vênh, chịu đựng nhiều sương gió, bão tuyết. Khác với những loại cây khác khi thu về thì lá vàng và rụng. Riêng tùng vẫn hiên ngang thách đố thời gian. Đó là một biểu tượng cho sự hiên ngang, thách đố lẵn phẩm chất của người quân tử; sự chịu đựng những thử thách và phấn đấu cho lẽ phải, khí phách ngay thẳng, không lùi bước trước những bất công. Đây chính là lý lẽ của con tim Nguyễn Trãi:


Thu đến cây nào chng l lùng


Mt mình lt thu ba đông.


 


Trong cuộc đời cách mạng, và giữ nước dựng nước, Nguyễn Trãi đã đặt mình vào vị trí của tùng và trúc, hai yếu tố nhất quán trong đời. Cho nên trong sinh thức của ông chúng ta bắt gặp con người của nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và là một nhà tư tưởng lớn, tư tưởng ấy chính là sản phẩm của một nền văn hóa Việt được khởi sinh từ thời đại hậu Lê, hòa quyện cùng Nho giáo để làm nên nền tảng cho nền văn học nước nhà. Cho nên, đối với ông tư tưởng nhân nghĩa là nội dung cốt lõi trong tư duy. Ấy còn là nền tảng trong quy tắc lãnh đạo.


Về thiên mệnh Nguyễn Trãi tuyệt đối tin ở Trời, ông cho rằng mọi vật đều do Trời tạo dựng. Mỗi người đều có số trời. Trời chính là cha ta, nên Trời yêu thương và tha thứ giống như cha mẹ sinh ra. Theo Nguyễn Trãi, ông cho rằng con người cần phải sống hợp với ý Trời, nghĩa là phải hòa hiệp, hiếu đạo, thẳng thắn, tha thứ, thương yêu lẫn nhau. Ở điểm nầy, Nguyễn Trãi là một nhất quan trong triều, một người vô cùng ảnh hưởng ở triều đại nhà Lê, nhưng ông lại là người luôn luôn thương yêu và kính trọng dân. Mặc dù sống trong giai đoạn phong kiến nhưng Nguyễn Trãi chưa bao giờ hành xử với dân hách dịch hay cậy quyền thế. Nguyễn Trãi luôn luôn nhắc nhở rằng nhân dân chính là động lực và nền tảng của chế độ, sự hưng thịnh của triều đại nằm ở dân và do dân làm nên. Vì thế, ở Nguyễn Trãi; ông chính là nhân vật lịch sử bật nhất, thời đại, gương mẫu, sống đúng theo tam cương ngũ thường. Ông chính là người đã khai sinh ra tư tưởng nhân bản trong chế độ phong kiến thời xưa và ngày nay.


Chữ nghĩa của nguyễn Trãi đi cùng với văn tài Ứùc Trai, cộng với ý chí sắc son chưa bao giờ mang ý tưởng vinh thân phù da. Từ Bình Ngô Đại Cáo đến Phú núi Chí Linh rồi Bia Vĩnh Lăng… Nguyễn Trãi đã xử dụng thứ ngôn ngữ dân tộc, xử dụng tiếng Việt và chữ Nôm làm lợi khí. Ông cũng nhấn mạnh trong Dư Địa Chí, rằng : ”Quạ bay đi còn biết quay về nơi cũ, cáo chết còn quay đầu về núi cũ. Chim muông còn thế, huống nữa là người? Các ngươi vốn là dân đất Việt sao lại thần phục nước Ngô hay nước Chiêm?”


Quả thế, lời dạy của tiên sinh ngàn đời không thể mai một. Bởi, con cáo, con quạ và chim muông vẫn quay về quê cũ. Thế thì con người Việt, hỡi những con người Việt! Có còn nghĩ đến tổ quốc ta chăng? Tổ quốc ta hơn 4000 năm ấy hiện đang bị bọn Tàu phù xâm lăng, gặm nhấm. Nhìn lại, có dân tộc nào vĩ đại hơn dân tộc chúng ta? Có bà mẹ nào chịu đựng và đau khổ hơn bà mẹ Việt Nam? Đã bao đêm khóc khô dòng lệ. Dấu vết ải Nam Quan còn đó, giọt nước mắt tiễn cha của Nguyễn Trãi chưa khô và lời dạy của Nguyễn Phi Khanh về mối thù nước non hình như vẫn còn văng vẳng bên ta. “ Bên ta, ta có nhau… bên tôi, tôi có anh …” có cái nghi ngút của trời xanh, và mênh mông của biển cả đã mời gọi ta về, bỏ quên ranh giới ý hệ, cùng nhau gánh vát bảo vệ mãnh đất mà cha ta đã gầy dựng như thiền sư Nguyễn Trãi đã trân trọng nói lên cái đại ngã của mình về nước non, non nước:


Tri nghi ngút, nước mênh mông


Hai y cùng xem mt thc cùng


L có chim bay cùng cá nhy


Mi hay kia nước n hư không. 


 


Tiến sĩ Nguyn Hu Hot


Xuân Nhâm Thìn

DanQuyen.com
    Phản Hồi Của Độc Giả Về Bài Viết
Họ và Tên
Địa chỉ
Email
Tiêu đề
Nội dung
Gửi cho bạn bè Phản hồi

Các bài viết mới:
    Một góc nhìn về tự do tôn giáo Việt Nam 2013 (19-01-2014)
    Tự do Internet tại Việt Nam (19-01-2014)
    Tay súng, tay cày trên biển đảo quê hương (19-01-2014)
    Trận chiến Hoàng Sa: Sứ mạng oai hùng và bi tráng của Hộ tống hạm Nhật Tảo (19-01-2014)
    Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Chờ đợi điều gì phía trước? (19-01-2014)
    Người Việt xa xứ và việc gìn giữ tiếng Việt tại Hoa Kỳ (19-01-2014)
    Thị trường việt nam năm 2014 thách thức hay cơ hội?. (19-01-2014)
    Hình tượng con ngựa trong văn hóa phương Đông và phương Tây (19-01-2014)
    Chuyện nước ở vùng biên ải (19-01-2014)
    Những nước cờ biển đông năm 2013: Khởi đầu cho những đột phá? (19-01-2014)
    Tổng quan tình hình thế giới 2013 (18-01-2014)
    Lá thư Chủ nhiệm (13-01-2014)
    CHÚ HOẢ: ĐÒN GÁNH TRE CHÍN DẠN HAI VAI (30-01-2012)
    Kinh tế Việt Nam 2012: Bức tranh tươi sáng  (30-01-2012)
    Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Đã đến thời nồng ấm? (30-01-2012)
    Thương nhớ chợ tình (30-01-2012)
    Câu chuyện cuối năm (30-01-2012)
    Lá thư Chủ nhiệm (29-01-2012)

Các bài viết cũ:
    TINH THẦN DUY LÝ DÂN TỘC (09-02-2011)
    10 SỰ KIỆN QUỐC NỘI BỔI BẬT NĂM 2010 (08-02-2011)
    ẨM THỰC TỪ QUÊ RA PHỐ (08-02-2011)
    Thịt Mỡ Dưa Hành, Bánh Chưng Xanh  (08-02-2011)
    BANG GIAO HOA KỲ-VIỆT NAM: HỢP TÁC ĐỂ ĐỒNG THUẬN (08-02-2011)
    BIỂN ĐÔNG NĂM 2010: SÓNG LỚN VÀ NHỮNG LÁT CẮT (08-02-2011)
    Chất Xám Hữu Cơ Hải Ngoại (08-02-2011)
    TINH THẦN VIỆT NAM- CỐT NỀN CỦA MỘT CON ĐÔ MI NÔ KHÔNG NGà(08-02-2011)
    Những biến cố năm Mão trong lịch sử (08-02-2011)
    Gìn giữ bản sắc Việt tại Hoa Kỳ (08-02-2011)
    Tào lao thế giới - Buồn vui một năm Dần (08-02-2011)
    Một năm thất bại (08-02-2011)
    Lá Thư Chủ Nhiệm (08-02-2011)
 
"Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam".

Chuyển Tiếng Việt


    Truyện Ngắn
À! Chuyện Chiêm Bao


   Sự Kiện

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn





 

Copyright © 2010 DanQuyen.com - Cơ Quan Ngôn Luận Người Việt Hải Ngoại
Địa Chỉ Liên Lạc Thư Tín:
E-mail: danquyennews@aol.com
Lượt Truy Cập : 178003737.