Viễn Ảnh Irag

Nguyễn Hữu Hoạt

Dân Quyền Online

 

 

 


Trên một phương diện nào đó, nếu nhìn một cách tổng quan chúng ta có thể kết luận rằng Hoa Kỳ đã thật sự đã tấn công Iraq từ lâu trên mặt trận kinh tế, ngoại giao, chính trị. Riêng về mặt trận cuối cùng để giải quyết chiến tranh là quân sự đã được các nhà chiến lược soạn thảo và tiến hành qua nhiều phương tiện và phương diện khác nhau. Trong khuôn khổ bài nhận định nầy chúng tôi muốn được đọc giả cùng nhau chia sẻ và cùng nhau bàn luận về những nỗ lực và khó khăn trong các lãnh vực tiêu biểu nhưng vô cùng quan trọng sau đây đối với Hoa Kỳ trước cũng như sau cuộc chiến giải giới Saddam Hussein.

a, Ngoại giao
Có nhiều người cho rằng trước đây trong cuộc chiến vùng Vịnh 1991 Tổng thống Bush (cha) đã thành công trong việc trừng phạt Saddam. Ngược lại ngày nay Tổng thống Bush (con) đã không thành công trên phương diện vận động đồng minh giải giới Saddam. Những nhận xét trên nhìn từ góc cạnh phiến diện chúng ta thấy hoàn toàn đúng. Nhưng một cách chi tiết hơn thì ngược lại. Bởi vì cuộc chiến vùng vịnh 1991 là cuộc chiến giải phóng quốc gia Kuwait bị Iraq xâm lăng. Nhờ đó cả thế giới ủng hộ. Ngược lại ngày ngay Tổng thống Bush là người khởi động cuộc chiến xâm lăng (invade) với lý do chống khủng bố và chống vũ khí hạt nhân một cách trừu tượng bên trong lãnh thổ Iraq nên Hoa Kỳ thiếu đi được yếu tố chính nghĩa. Mặc dầu Hoa Kỳ nói chung và một số quốc gia đồng minh của Mỹ thấy được (vision) sự tai hại của một Iraq có khả năng nguyên tử lớn mạnh ở tương lai. Tuy nhiên khả năng nguyên tử và vũ khí vi trùng chỉ là những giả thuyết chưa thấy được và có bằng chứng xát thực 100%. Do đó Tổng thống Bush không nhận được sự hổ trợ hoàn toàn của những quốc gia trong khối NATO và những thành viên Liên Hiệp Quốc. Trong đó tất cả gồm có 15 thành viên trong Hội Đồng Bảo An nay chỉ còn có 4 thành viên ủng hộ Tổng Thống Bush đánh Iraq.

Nhìn qua Pháp và Đức là hai thành viên chính của NATO và HDBA hoàn toàn phản đối Hoa Kỳ về việc tấn công Iraq theo chương trình của họ đưa ra. Sự chống đối nầy của Đức và Pháp gây thêm giây chuyền đến Nga, Trung quốc, Syria và 52 quốc gia trong khối Phi châu hỗ trợ Pháp. Đặc biệt Guinea, Cameroon và Angola là những thành viên dự khuyết của Liên Hiệp Quốc nhưng họ được quyền bỏ phiếu. Những quốc gia trên cho rằng Tổng thống Bush đánh Iraq vì tham vọng về thị trường dầu hỏa ở Trung Đông chứ không phải vì vũ khí nguyên tử hay vi trùng học. Đó là lý do của Pháp, Đức đưa ra. Tuy nhiên trên cái nhìn vật chất có bằng chứng thì chúng ta biết rằng Iraq là một quốc gia đã mua lại vũ khí, máy bay và hàng ngũ cốc từ các quốc gia trên kể cả Nga Sô và Trung Quốc. Đặc biệt hơn nữa Iraq đã bán ra với một giá dầu rất rẻ cho Pháp trước đây. Xa hơn vì cảm tình riêng rẻ giữa Saddam và Jacques Chirac trong thời kỳ khi Saddam làm Phó tổng thống và Chirac làm Thủ tướng. Do đó, việc chống lại Hoa Kỳ không phải vì nhân đạo hay dựa trên lý mà hoàn toàn dựa trên quyền lợi của họ.

Riêng đối với Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia có vị trí chiến lược lẫn tầm vóc chiến thuật trong cuộc chiến Iraq. Thổ cho rằng trong cuộc chiến 1991 quốc gia của họ đã bị thiệt thòi hằng tỷ mỹ kim, và ngày nay cuộc chiến xảy ra giữa Iraq và Mỹ sự thiệt hại về nền kinh tế sẽ tăng lên gấp 3, hoặc 4 lần. Vì thế họ đã đòi hỏi Mỹ với số tiền là 10 (grand) tỷ và cho mượn (loan) 20 tỷ Mỹ kim và văn kiện phải ký để xây dựng cũng như tái thiết hoặc bảo vệ của Hoa kỳ đối với Thổ.
Đổi lại, về phía Hoa Kỳ trên căn bản đồng ý cho Thổ 5 tỷ và cho vay 10 tỷ cộng với sự bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ nếu bị Iraq tấn công. Và Ngũ Giác đài sẽ xử dụng đất Thổ cho sự đổ quân của sư đoàn 4 Bộ Binh và Sư đoàn I Kỵ Binh tiến thẳng từ hướng Nam vào bản doanh của bọn Tikrit và thủ phủ Baghdad. Song song với hướng Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay quân đội Mỹ đã trải dài biên giới Kuwait.

Theo bản thống kê của tờ U.S. News có đến 80% dân Thổ không thích Mỹ hiện diện trên đất họ. Chính vì những đòi hỏi thái quá của Thổ và phong trào chống đối cho nên Hoa Kỳ có thể sẽ tiến hành theo kế hoạch B sau nầy, nghĩa là sẽ không dùng đất Thổ làm căn cứ địa mà sẽ tấn công vùng Mosul của Iraq trước tiên, thiết lập phi trường và trạm tiếp liệu cũng như y tế. Thế thì tại sao Hoa Kỳ không xử dụng kế hoạch B bây giờ để khỏi phải lệ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và sẽ không phải đối phó với phong trào bài Mỹ trong tương lai? Để trả lời câu hỏi nầy, sỡ dĩ Hoa Kỳ theo đuổi kế hoạch A (plan A) hơn kế hoạch B (plan B) vì hiện nay Thổ Nhĩ Kỳ đã có nhiều sư đoàn trải quân dọc theo biên giới hướng Nam của Iraq, với mục đích ngăn chận quân Kurdisk tràn sang Thổ. Một điểm thứ hai Hoa Kỳ muốn xử dụng Thổ Nhĩ Kỳ là: Mỹ không muốn thấy Thổ chiếm lĩnh các giếng dầu hỏa gần Mosul và Kirkuk về hướng Nam cũng như hoàn toàn giữ vai trò trung lập thay vì chống lại lực lượng Kurds của Iraq, tạo nên khó khăn hơn nữa cho Hoa Kỳ, thay vì lực lượng Kurds sẽ giúp Hoa kỳ trong vai trò bình định và gạch nối đối với người dân Iraq.
Một yếu tố khác không kém phần quan trọng là Hoa Kỳ quyết theo đuổi kế hoạch A cho dù tốn kém và khó khăn. Yếu tố nầy có tính cách thuộc về tôn giáo nằm trong chính trị. Ấy là Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia có sĩ số tín đồ Hồi Giáo cao, và đồng minh Thổ sẽ nói lên thế “chính nghĩa” của Hoa Kỳ là mục tiêu của họ là giải giới cá nhân Saddam chứ không phải chống lại đạo Hồi.

b, Kinh tế (Dầu Hỏa)
Trước đây khi chiến tranh vùng Vịnh xảy ra năm 1991, các công ty Hoa Kỳ đã phải tốn đến 7 tháng để dập tắt ngọn lửa trong các giếng dầu do quân đội Saddam đốt cháy trước khi rút ra khỏi Kuwait. Tổng số lượng dầu hỏa theo Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ (U.S. Department of Energy) cho biết Kuwait có 96.5 tỷ barrels, 9% dầu thế giới trải dài trên diện tích 10,690 square miles (lớn bằng tiểu bang Massachusetts). Nhưng lần nầy mặc dầu Saddam đã nói với Dan Rather (CBS) trong cuộc phỏng vấn rằng ông ta sẽ không đốt những giếng dầu khi Mỹ đổ bộä, nhưng lấy gì để bảo đảm lời hứa trên khi cọp ở đường cùng, Và ai sẽ bảo đảm những người Iraq bảo thủ (conservatives) không chịu để những giếng dầu thuộc về kẻ chiến thắng. Đối với diện tích 262,240 square miles (nhỏ hơn tiểu bang Texas 6,300 square miles) số lượng dự trữ dầu của Iraq lên đến 112.5 tỷ barrels, và 1,500 giếng dầu khắp nơi trên lãnh thổ Iraq, chiếm 11% dầu hỏa thế giới đòi hỏi thời gian, tiền bạc nhiều hơn và lâu hơn để dập tắt ngọn lửa, trong một khoảng thời gian nhanh và hiệu quả nhất để số lượng dầu hỏa trên khỏi phải thiêu hủy gây nên tình trạng thiếu hụt dầu hỏa trên thế giới. Khác với trước kia chính phủ Kuwait đã có một số tiền khổng lồ để tại các ngân hàng ngoại quốc, và họ đã trả đến 2.5 tỷ mỹ kim cho các công ty Cudd, Safely Boss, Will Well Control và Botts& Coots. Cho đến nay mặc dầu Bộ quốc phòng Hoa Kỳ đã đề nghị các công ty phát họa kế hoạch chữa lửa. Tuy nhiên, ông Mike Miller cho rằng chưa có một lời hứa hẹn nào ai sẽ là người chịu trả tiền cho các chi phí nầy.

Ngoài ra có hai trường hợp khó khăn nữa cũng được đơn cử như sau:

Một là, trước khi thua trận Saddam sẽ cài những bãi mìn cũng như các hóa chất hóa học hay vi trùng tại các giếng dầu hỏa dùng để trì hoản kế hoạch chữa cháy của các chuyên viên chữa lửa.
Hai là, hai dòng sông chính Tigris và Euphrates cung cấp nước uống cho một số quốc gia Trung Đông, trong đó có cả Thổ Nhĩ Kỳ và Saudi. Giả thuyết Saddam không ăn được sẽ đánh đổ tất cả, và ai có thể bảo đảm rằng Saddam không dùng hóa chất cô lập nguồn nước ngọt nầy. Ngay cả bây giờ chiến tranh chưa bùng nổ nhưng dân Iraq đã thiếu nước hằng ngày. Nếu mai nầy giả thuyết trên là đúng, và không có biện pháp ngăn ngừa liệu các quốc gia Trung Đông nói riêng sẽ phản ứng thế nào và quy trách về ai trong những ngày tới?

Như chúng ta biết thị trường dầu hỏa thế giới ngày nay tùy thuộc vào Trung Đông phần lớn, dầu hỏa lấy lên từ các quốc gia Saudi, Iraq, Kuwait, Iran, Sudan, Bahrain, Oman và Qatar. Nhưng Iraq là một quốc gia có số lượng dầu hỏa nhiều đứng thứ hai và nếu số lượng dầu hỏa 11.5 tỷ barells bị đốt cháy, rồi đây thị trường dầu hỏa sẽ lên ở mức độ nào? Và các quốc gia kỹ nghệ như Hoa Kỳ, Nhật Bản cùng Âu châu sẽ chịu những ảnh hưởng nào trong những ngày tới. Những gì sẽ phải xảy ra sau chiến tranh, nhất là Hoa Kỳ hiện phải chi dụng hằng trăm tỷ mỹ kim cho chiến tranh. Nhìn lại trong qúa khứ, kể từ Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế Chiến, đến chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam nền kinh tế Hoa Kỳ đã bị suy thoái (Economic recession) một cách trầm trọng và ít nhất tốn từ 6 đến 12 năm mới có thể quân bình lại. Nếu các dự án kinh tế và tài chánh được hiệu qủa.

Viễn tượng Iraq:
Giả thuyết rồi đây Hoa Kỳ sẽ thắng trận do Lực Lượng Bộ Binh tiến chiếm Iraq và Saddam sẽ được thay thế bởi một chính phủ thân Mỹ (Lực Lượng Bộ Binh là đơn vị chủ động quyết định sự chiến thắng trong cuộc chiến). Theo tinh thần Liên Hiệp Quốc bất cứ một quốc gia nào xử dụng Lực Lượng Bộ Binh tiến chiếm quốc gia khác, lật đổ chính quyền đương nhiệm thì quốc gia ấy phải có trách nhiệm thành lập một chính phủ mới thay thế cho chính phủ cũ, và chính phủ mới phải có khả năng tương đương hoặc phải khá hơn chính quyền trước kia. Đồng thời phải giúp đỡ chính quyền mới thành lập vãn hồi trật tự xã hội. Như thế, sau khi Tổng thống Bush đã giải giới Saddam, theo tinh thần Liên Hiệp Quốc Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ Iraq thành lập chính phủ và tái thiết Iraq. Thế nhưng, muốn có sự vãn hồi hòa bình và một xã hội trật tự phải có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Nhưng chính sự hiện diện nầy rồi đây tinh thần Saddam có thể sẽ sống lại và rằng ngọn lửa Iraq biết đâu sẽ lan dần cả khối Trung Đông lẫn Á châu trong tương lai dưới dạng thức cuộc thánh chiến do những người Hồi giáo chủ xướng.

Ấy là một giả thuyết có thể sẽ không còn là viễn ảnh nữa. Nếu viễn ảnh ấy xảy ra chúng ta tin rằng Tổng thống Bush sẽ leo lên nấc thang cuối cùng của một cuộc chiến, trong đó những thử thách nầy chồng chất lên những thử thách kia. Và biết đâu trong nhiệm kỳ tới vai trò lãnh đạo Hoa Kỳ không còn cơ may cho Tổng thống Bush nữa.


________________________________________________________________________
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
Địa chỉ: 2800 N. Classen BLVD Suite 102 Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558