| |
Gần 1/4 thế kỷ qua khi Đại sứ Martin hớt hải bỏ chạy ra Đệ
Thất Hạm Đội mang theo lá quốc kỳ trên tay, người ta không ai
tin được rằng Mỹ sẽ trở lại Việt Nam cho dù dưới một dạng thức
nào. Những suy tư đó thật ra cũng không có gì gọi là quá đáng,
vì vào thời điểm ấy sức mạnh Liên Bang Sô Viết vẫn còn là con
gấu miền Bắc Cực. Hơn nữa, trên yếu tố tâm lý suốt cuộc chiến
dài 20 năm những đổ nát của quê hương và những hố bom B52 đổ
xuống đã ghi lại một dấu ấn quá sâu trong lòng của kẻ chiến
thắng. Bên cạnh đó, khẩu hiệu ôĐế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân
dân ta ô được lặp đi lặp lại nhiều lần qua mọi hình thức khác
nhau.
Thế nhưng thời gian vẫn là liều thuốc bổ có thể hàn gắn tất cả,
khi yếu tố chính trị và nhu cầu kinh tế được coi như một trong
những trọng tâm ưu tiên để hai bên (Hoa Kỳ và Việt Nam) có thể
gạt bỏ quá khứ ngồi lại với nhau tìm kiếm và theo đuổi mục
đích riêng tư của mỗi bên, đúng như những gì Richard Nixon vẫn
thường nói khi ông còn tại chức ôkhông một quốc gia nào cho
rằng họ là bạn hay thù nghịch một cách vĩnh viễn đối với quốc
gia khác. Chỉ có quyền lợi riêng tư của quốc gia đó là vĩnh
viễn mà thôiọ.
Thật vậy, trên căn bản và cảm giác các hố bom B52 đã được san
bằng, chứng tích của hận thù cũng đã được đẩy lùi vào quá khứ
kể từ năm 1995 khi hai nước bắt đầu có những liên hệ ngoại
giao. Từ đó, các bước đi kế tiếp kể cả việc trao đổi Đại Sứ đã
được thực hiện. Cho đến nay Hoa Kỳ đã chính thức làm lễ khánh
thành Tòa Tổng Lãnh Sự tại Sài Gòn. Điều đáng chú ý hơn nữa
Hoa Kỳ đã không lấy lại Tòa Đại Sứ cũ để làm văn phòng Tổng
Lãnh Sự mới. Sự xây lại một tòa nhà khác mới hơn còn có nghĩa
rằng quá khứ thuộc về quá khứ, và từ đây Hoa Kỳ & Việt Nam sẽ
bắt đầu viết lên một trang sử mới. Trang sử mới có thể được
bắt đầu từ 2 gói hành trang mang theo của Ngoại trưởng Hoa Kỳ
M. Albright khi đến Hà Nội: Gói thứ nhất là kinh tế và gói thứ
hai là cải tổ nhân quyền.
Nhìn chung về khía cạnh kinh tế nếu thỏa hiệp mậu dịch giữa
hai nước được tiến hành một cách thuận thảo Hoa Kỳ chỉ thâu
được lợi nhuận mỗi năm vào khoảng 71 triệu Mỹ kim, và ngược
lại Việt Nam sẽ được lên đến 147 triệu. Công bình mà nhận xét
rằng đối với Hoa Kỳ số lượng 71 triệu Mỹ kim hằng năm không
phải là một số tiền đáng kể cho nền kinh tế của họ. Tuy nhiên
tại sao thỏa hiệp mậu dịch vẫn được tiến hành? Một điểm khác
hành trang (vũ khí) nhân quyền có phải là lý do chính yếu để
Hoa Kỳ đề cập với Hà Nội trong việc thương thảo mậu dịch hay
không?
Trước khi chia xẻ câu hỏi nầy chúng ta hãy so sánh với Trung
Cộng. Chắc chắn không ai có thể phủ nhận được rằng Trung Quốc
là một quốc gia độc tài nhất hiện nay. Từ Thiên An Môn cho đến
tất cả các nhà đối lập của họ đều bị chính quyền cô lập hay tù
tội. Dĩ nhiên Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng liên tục về vấn đề nhân
quyền, trong đó kể cả việc bênh vực cho các nhà đấu tranh nhân
quyền bị tù tội được phép xuất ngoại. Tuy nhiên, lên tiếng can
thiệp được xuất ngoại không phải là biện pháp hữu hiệu để ủng
hộ “làn sóng nhân quyền” hay phương pháp tốt nhất để chế tài
chính quyền Trung Quốc, ngay cả vụ đánh cắp tài liệu nguyên tử
vừa qua tại Trung tâm nguyên tử New Mexico Hoa kỳ vẫn chỉ lên
tiếng qua trung gian của các nhà Lập Pháp mà thôi. Sở dĩ có
những ôuyển chuyểnọ từ phía Hoa Kỳ không ngoài lý do thị
trường của Trung Quốc đã đem lại cho Hoa Kỳ hằng trăm tỷ Mỹ
kim hằng năm. Hơn ai hết Trung quốc là người biết được sức
mạnh đó, cho nên mặc dầu Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương
liên kết phản đối vấn đề nguyên tử, Trung Quốc vẫn tiếp tục
theo đuổi mục tiêu của mình đề ra.
Riêng đối với Việt Nam dĩ nhiên nhân quyền không phải là một
vấn đề ưu tiên số một được Hoa Kỳ chú trọng, đồng thời thỏa
hiệp mậu dịch cũng chỉ là một cái cớ thứ nhất và bên ngoài để
Hoa Kỳ có lý do đưa đến việc bang giao giữa hai quốc gia mà
thôi. Thật ra, việc Hoa Kỳ hiện diện tại Việt Nam chắc rằng
không phải chỉ có vấn đề kinh tế tìm kiếm thị trường tiêu thụ,
bởi vì lợi tức hằng năm của người Việt thu vào không quá 200
đô la cho mỗi đầu người.
Giả thuyết đặt ra nếu thị trường Việt Nam chưa phải là một thị
trường có mức tiêu thụ cao, vậy yếu tố nào để Hoa Kỳ muốn có
liên hệ chặt chẽ? Phải chăng chủ thuyết Domino giờ đây đã sống
dậy và hiện đang trở lại Việt Nam? Phải chăng Việt Nam sẽ là
tiền đồn số một để chống lại sự bành trướng của Trung quốc?
Nhìn vào yếu tố địa lý Việt Nam có rất nhiều thuận lợi để có
thể kèm chế Trung Quốc, trong đó kể cả Hải Cảng Cam Ranh và Đà
Nẵng sẽ là hậu cứ an toàn có khả năng tu bổ và đáp ứng cho mọi
biến động trong vùng Đông Nam Á, thay thế hải cảng Subic Bay
và phi trường Clark nay đã hoàn toàn thuộc về Phi Luật Tân.
Phần khác Việt, Miên, Lào còn là một hàng rào chiến lược của
Hoa kỳ nếu có cuộc chiến xảy ra giữa Hoa-Trung.
Về phía Việt Nam, nếu chủ thuyết Domino giờ đây được sống lại
như trên đề cập đến, chúng ta tin rằng Việt Nam tương kế tựu
kế có thể lợi dụng cơ hội nầy để phát triển đất nước, xây dựng
kỹ nghệ và phát minh các phương tiện cần thiết để bảo vệ đất
nước. Dĩ nhiên sự ôthân cậnọ với Hoa Kỳ không có nghĩa là ôbỏ
rơiọ Trung Quốc và Việt nam sẽ trở thành một thành trì chống
Trung quốc cho bất cứ ai, hoặc Việt Nam không thể là một
ôKilling fieldọ để các thế lực ngoại bang quần thảo.
Tóm lại, lịch sử còn đó nhưng lịch sử đã qua và lịch sử luôn
luôn thuộc về quá khứ, quá khứ chỉ còn là kỷ niệm, kỷ niệm
không thể dìu dắt dân tộc bước đến con đường thịnh hưng. Do đó,
hình ảnh ôcuốn cờọ bỏ chạy của Đại Sứ Martin trong 1/4 thế kỷ
qua cũng rất ôphi thường và dũng mãnhọ. Nhưng nó là một kỷ
niệm hoàn toàn khác với hình ảnh ôdựng cờọ trở lại của Ngoại
Trưởng Albright và Đại Sứ Peterson được Hà Nội ôđón tiếp và
hoan nghênhọ. Cả hai hình ảnh ôcuốn cờọ và ôdựng cờọđều có một
điểm chung. Điểm chung ấy chúng ta đã tìm thấy được chân lý
trong lời nói của Richard Nixon.

________________________________________________________________________
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|