| |
Kính thưa tất cả quý vị
Lần nầy tôi trở lại thành phố Paris trong chiều hướng suy tư
khác hơn với lần trước đây. Tôi muốn được nhấn mạnh ở phạm trù
suy tư khác hơn vì nhân loại đang chuẩn bị bước đến thế kỷ
XXI. Dĩ nhiên mọi chuyển động của nó đều có những thuận chiều
và đối nghịch lẫn nhau. Xét cho cùng động tử thuận và nghịch
đều có những ưu và khuyết điểm của nó nếu chúng ta nhìn ngắm
dưới một cách vô tư và công bằng.
Điều khác hơn nữa, trước đây khi đến Paris tôi đã xuống phi
trường Orly, nhưng lần nầy tôi lại xuống phi trường Charles de
Gaulle. Động từ bước xuống và quan sát không khác nhau bao
nhiêu vì nó chỉ là động từ. Tuy nhiên nhận thức(perception) về
bản chất nguyên thủy của danh từ Orly và Charles de Gaulle thì
lạị có những đối nghịch về hoàn cảnh, nhưng không khác nhau ở
mục đích. Bởi lẽ em bé Do Thái mang tên Orly đã trốn chạy quân
Hiller tìm kiếm tự do và nhân bản đến nỗi phải chết trên rừng
một cách tội nghiệp và thảm thương. Riêng Charles de Gaulle
đối với người Pháp hôm nay và thực dân Pháp hôm qua thì cho
rằng De Gaulle là vị anh hùng đã giải thoát tự do cho dân tộc
của họ. Tôi tôn trọng và ngưỡng phục ý tưởng đó của mỗi người
công dân nước Pháp. Tuy nhiên, đối với cá nhân chúng tôi, một
con người mang bản sắc Việt tộc thì ngược lại cho rằng thành
phố Paris tráng lệ ngày hôm nay là nhờ một phần ở sự bóc lột
xương máu và tài nguyên của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều
dài 80 năm lịch sử làm nên. Trong đó ông nội tôi, cha tôi, bác
tôi, anh tôi và những anh hùng Việt Nam khác đã bị thực dân
giết hại không ngoài mục đích củng cố địa vị của bọn thực dân
và sự phồn thịnh của nước Pháp. Có lẽ vì thế, cứ mỗi lần tôi
đến nước Pháp, nhìn nước Pháp và con người, tôi có những định
kiến mông lung trong quá khứ, suy tư về hiện tại và đắn đo ở
tương lai. Tôi gọi nơi đây chính là quê hương của kẻ ngoại và
cựu thù, quê hương của những tên thực dân đã từng hiếp dâm,
đốt nhà, cướp của và phá đình làng nơi thờ cúng tổ tiên của
chúng ta.
Chua chát và khôi hài hơn nữa, vào năm tôi chào đời tại Quảng
Nam, cũng tại nơi đây, trong điện Chaillot đã công bố tuyên
ngôn chung của bản “Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền” do một
người Pháp tên là René Cassin sọan thảo và đã được 40 quốc gia
bỏ phiếu thuận và 8 quốc gia bỏ phiếu trắng gồm có Liên Sô, Ba
Lan, Bilelorussie, Ukraine, Yougoslavie và Tchecoslovaquite và
hai quốc gia vắng mặt (Yemen và Honduras). ĐÀiều khôi hài nhất
Thực Dân Pháp và Đế Quốc Anh là người cổ cõ để bản văn kia
được ra đời, nhưng họ lại là hai quốc gia không muốn phổ biến
rộng rãi, bởi trong thời điểm đó Anh và Pháp hiện đang còn
theo đuổi chính sách thuộc địa. Tệ hại hơn nữa khi bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền chưa ráo mực, cũng chính những chức
năng ký vào bản tuyên ngôn lại là những tên thực dân cổ vỏ cho
việc chém giết đồng bào tôi tại Việt Nam.
Nhìn lại giòng sử ấy, tôi ý thức và hiểu được nhu cầu khẩn
thiết cho việc ra đời của Tuyên Ngôn Nhân Quyền, tôi đã đọc và
đã hiểu cũng như đã thấy được những khó khăn của bà Eleanor
Roosevelt (phu nhân Tổng Thống Hoa Kỳ) khi điều hành ban sọan
thảo tuyên ngôn.
Tôi đã hò reo vỗ tay và ngợi khen nội dung thực tiển của nó,
vì nó đã nói lên và bảo vệ bởi những yếu tố thành văn để bảo
vệ thứ quyền nhân vị của con người. Còn nữa, tôi vỗ tay bởi lẽ,
ít ra trên căn bản ngọn gió nhân quyền được chứa đựng 30 điều
khẳng định về quyền làm người được ra đời, để rồi sau đó gần
50 thập niên sau Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Anna nói rằng” Tất
cả các quyền con người cho tất cả mọi người”. Dĩ nhiên cho tất
cả con người trong đó có đồng bào tôi, đồng bào Việt Nam.
Song song với niềm vui đó, trong tôi nỗi xót xa chua chát vẫn
chạy ngược dòng. Bởi lẽ, ô hay! Ngôn từ chuyển tiếp của nhân
quyền sao mà tuyệt vời đến thế? Đất nước tôi, đồng bào tôi nhà
tan cửa nát, thực dân Pháp và tay sai thay phiên nhau bức hại
sao chẳng thấy ai, những kẻ đã từng soạn thảo, khuyến khích,
vinh danh, tung hô và thò tay ký vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế
Nhân Quyền lên tiếng hay can thiệp vào? Ngược lại những cha đẻ
(father founder) lại còn hổ trợ và viện trợ trực tiếp cũng như
gián tiếp cho thực dân Pháp xâm lấn nước tôi, trong đó có Anh
và Mỹ.
Kém may mắn và thê lương hơn nữa, dân tộc Kampuchia trải qua
thời kỳ đen tối nhất lịch sử của họ do bởi hành động diệt
chủng của Pol Pot, kẻ nội thù của dân tộc Kampuchia. Cả thế
giới đã hoảng hốt và ghê tởm khi nhìn thấy hình ảnh một
“Killing Field”. Thế nhưng khi hành động diệt chủng của Pot
Pot bắt đầu chẳng thấy một ai lên tiếng để chận đứng hành động
diệt chủng đó. Than ơi! Sao chua chát và phủ phàng đến thế?
Thưa quý vị,
Nói đến đây tôi chợt nhớ lại từ Đông sang Tây có những phù hợp
tương đồng được phát sinh từ bên trong của những tư duy sáng
tạo. Thứ nhất, John Lock đã đưa ra chủ thuyết tam quyền phân
lập (nội chính), thứ hai Tôn Trung Sơn lại đưa Tam Dân Chủ
Nghĩa. Cả hai từ John Lock cho đến Tôn Trung Sơn đều có một
cái nhìn về căn bản của nền dân chủ pháp trị, dân chủ tự tồn
và dân chủ độc lập. Và nếu Lock quan niệm cơ cấu một chính
quyền phải được thành lập bởi Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp
dùng để duy trì tính chất và nền móng cho nền dân chủ phát
triển để xây dựng đất nước, thì ngược lại Tôn Trung Sơn chủ
trương quyền căn bản của dân tộc, trong đó yếu tố dân tộc tự
quyết là một điều (element) trong bản tuyên ngôn quốc tế Nhân
Quyền. Gần hơn nữa đối tượng M.L King, Macom X hay Rosa Park,
người đàn bà da đen không chịu nhường ghế trên xe bus cho
người da trắng tại Montgomery là những hành động cụ thể biểu
dương và bảo vệ tính cách nhân vị của con người.
Thật vậy, nhân vị của con người được đòi hỏi không phải chỉ có
riêng người dân da đen hay các sắc dân nào khác hơn, kể cả tại
Ấn Độä chế độ thuộc địa của Đế Quốc Anh cũng phải đầu hàng với
trào lưu cải tiến của tiến trình nhân bản dân chủ, nên chế độ
bảo hộ của Đế quốc đã bị đào thải bởi sức đề kháng qua tinh
thần đấu tranh bất bạo động của người dân Ấn qua các phong
trào đòi quyền tự do nhân bản dưới sự lãnh đạo của Thánh Gandi,
buộc Đế Quốc Anh phải trao trả độc lập cho dân Ấn vào năm
1947.
Từ những xúc tác đấu tranh giành quyền tự do nhân vị và các
quyền căn bản tự quyết của các dân tộc trên khắp thế giới, bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được ra đời vào ngày 10 tháng 2
năm 1948. Dĩ nhiên bản văn trên khi được thành văn là nhờ ở sự
đóng góp máu xương của nhiều sắc dân, trong đó dân tộc Việt
Nam chúng ta đã gián tiếp và trực tiếp vun xới cây Nhân Quyền
bằng các cuộc đấu tranh đẩm máu qua các giai đoạn sử ký tạo
thành giao điểm (điểm hẹn) lịch sử bằng lý do căn bản trong
điều khoản thứ nhất của Tuyên Ngôn Nhân Quyền (Mọi người sinh
ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi).
Chính vì thế ở vào giữa thập niên 20, 30, 40 các nhà cách mạng
Việt Nam trong đó có Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc
Kháng, Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Châu Trinh, Phan Thành Tài
v.v... bằng gậy tầm vông và trang bị bởi tinh thần Thánh Gióng
đã nhất tề đứng dậy vận động cuộc đấu tranh toàn diện, toàn
giới, cả nước, mọi nơi, từ thành thị cho đến thôn quê để đòi
hỏi dân quyền dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Chắc hẳn
trong chúng ta vẫn còn nhớ phong trào chống lại xâu cao thuế
nặng và đòi tự do dân chủ của chí sĩ Phan Châu Trinh lãnh đạo
tại Quảng Nam đã là tiếng chuông ngân mãi trong dòng sống Việt.
Tiếng chuông ấy chẳng những chỉ cảnh tĩnh ở khúc quanh lịch sử
mà còn là ngọn lửa soi sáng cho thế hệ mai sau.
Từ những cốt lõi trên, thực dân Pháp và quân phiệt Nhật không
còn lối thoát nào khác hơn đã phải chấp nhận cuộc tháo chạy
bởi lòng bộc phát ở dân tộc phục hoạt yếu tố dân quyền. Mặc
dầu cuộc tháo chạy trên của thực dân và quân phiệt không do
bởi những ràng buộc của Tuyên Ngôn Nhân Quyền, mà do chính
lòng đoàn kết của khối đại dân tộc Việt đóng vai trò chủ lực.
Tuy nhiên các điều khoản trong văn kiện nhân quyền đã là kích
thích tố và còn là động cơ đưa con người bước vào những quy
luật được quốc tế đặt ra.
Từ những căn cơ bên ngoài và các manh nha bên trong, đất nước
ta khi bắt đầu rời bỏ chế độ quân chủ, lại gặp phải chế độ nô
dịch ngoại lai. Trên lý thuyết họ hình thành một định chế dân
chủ cũng theo khuôn mẫu của Lock, nhưng đàng sau được lèo lái
bởi những tên tư bản đỏ. Vì thế, dân quyền đối với người Việt
Nam vẫn còn là một đề tài nhức nhối cần phải được lật ngược và
bàn cãi hầu đáp ứng được ước vọng quần chúng dựa theo các quy
luật hữu thệ và tự nhiên của con người kinh qua các định chế
chính trị dân chủ phát sinh ở sản phẩm của trí tuệ mà ra.
Chính vì thế, bức thông điệp Nhân Quyền phải được các cơ phận
thừa sai thi hành một cách tuyệt đối và đúng đắn, trong mục
đích chuyển hóa các định chế chính quyền từ chỗ độc tài trở
thành dân chủ, khổ đau trở thành hạnh phúc và lạc hậu trở
thành văn minh, đúng như lời Đức Phật Thích Ca đã thuyết giảng
tại vườn Lâm Tỳ Ni cách đây 2500 năm.
Thưa quý vị,
Chuyển hóa chính quyền từ độc tài trở thành dân chủ, tôn trọng
phẩm giá của con người và “mọi cá nhân đều có quyền sống,
quyền tự do, quyền an ninh bản thân” thuộc về điều khoản số 5
trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền. Hành động chuyển hóa chính quyền
từ chỗ độc tài trở thành dân chủ là một định nghĩa rõ ràng và
xác thực trong tư tưởng của Đức Thích Ca đưa ra làm căn bản
cho một chính quyền đại nghị, dân chủ hầu kiến dựng đất nước
trần thế. Chính vì thế, đất nước ta trải qua những thăng trầm
trong các giai đọan lịch sử, Phật Giáo Việt Nam lấy từ căn bản
đó đã đóng góp tích cực vào việc bảo vệ quyền làm người, quyền
tự do tín ngưỡng để hoằng dương đạo pháp và xây dựng đất nước,
chống lại mọi hành động thống trị của các đế quốc khác. Do đó,
trong suốt cuộc chiến chống lại thực dân, con người Phật Giáo
nói riêng và Việt Nam nói chung đã ý thức rõ rệt và hành xử
một cách khẩn cấp phân minh, đứng đắn trong vai trò và vị trí
của mình, cũng như trong cuộc chiến chống lại các nô dịch văn
hóa, Phật Giáo đã biến mình trở thành những chiến sĩ nghĩa
quân trân trọng bảo vệ thành trì văn hóa dân tộc bất khả xâm.
Từ những nhận thức trên, giai đoạn hiện nay và kế tiếp người
Việt Nam nói chung, không có sự khác biệt ở yếu tố địa dư hay
tôn giáo sẽ tiếp tục lên đường quyết tâm đòi hỏi đúng và trọn
vẹn vai trò của mình cũng như ý thức về quyền nhân vị, đặt tổ
quốc lên trên và sẽ coi mình như một lực lượng nòng cốt, yêu
tổ quốc, chủ lực của dân tộc sẵn sàng xung xích vào bất cứ
hoàn cảnh nào, để có thể thích hợp và hòa đồng cùng mọi xu thế
thời đại trong đó hệ tư tưởng dựng nước cứu người là yếu tố
duy nhất, lưỡng nghi, trên cao, trước hết và có sự đồng thuận
của đại đa số dân tộc. Trọng tâm và thực tiển hơn nữa, bức
thông điệp Nhân Quyền khi khởi sinh vào năm 1948 đã đánh dấu
tiến trình văn minh của nhân loại có sự đồng thuận và đáp ứng
khát vọng của con người. .
Ấy cũng là trọng tâm của cuộc hội luận hôm nay trước điểm hẹn
văn minh cho Việt Nam bước vào thế kỷ 21 và cũng là những trăn
trở của chúng ta đối với quê hương đất nước. Xin cám ơn quý vị
đã chia xẻ và lắng nghe bài tham luận nầy.
Thành thật cảm ơn quý vị.

________________________________________________________________________
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|