| |

Bằng những thiết tha của tuổi trẻ trong một đất nước chiến
tranh. Tôi đã lớn lên đồng hành cùng tiếng vang rền bom đạn
nơi làng quê xứ Quảng. Hay nói một cách khác, tuổi thơ của
chúng tôi được nhào nặn bởi hai lằn đạn. Một của Thực dân và
hai của những người Việt Minh chống Pháp. Tính đến ngày đình
chiến, nhà tôi tổng cộng bị Tây đốt 4 lần, trong đó Cha tôi
bị giết lúc tôi lên 1 tuổi. Hình ảnh những ngày mẹ bồng tôi
chạy trốn khi Tây lên (Tây về làng càng quét), lúc trở về
nhìn căn nhà bị đốt trụi trơ. Tôi nhớ rõ và rất rõ những
giọt nước mắt lăn tròn trên khuôn mặt mẹ đứng nhìn căn nhà
bị đốt cháy, lúc ấy lòng mình nhỏ quá để nghe tiếng uất hận
cũng như nổi hờn căm của một kẻ mồ côi cha và quê hương bị
dày xéo. Rồi thời gian lớn dần... và tôi cũng lớn…... nhận
diện ra rằng sự côi cút của gia đình mình chỉ là một đơn vị
nhỏ trong đơn vị lớn của những người dân ở quê đều gánh chịu
bởi hệ lụy ngoại xâm.
Cho dù ngày hai buổi buôn tảo bán tần, cơm độn khoai sắn,
bữa thiếu bữa no nhưng mẹ vẫn nuôi tôi đi học. Thời ấu thơ ở
tuổi học trò chúng tôi tập viết văn, làm thơ, học lịch sử.
Tôi hãnh diện đất nước ta có một Quang Trung, hai Lê Lợi, ba
Ngô Quyền, bốn Nguyễn Trãi… và vân vân.. Nhưng ngược lại tôi
vô cùng tủi hổ khi nghe thầy dạy về hành trình giữ nước từ
Gia Long cho đến Bảo Đại hay Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải
hoặc Phạm Quỳnh. Từ đó, từ tư duy đến tư tưởng tôi hiểu rằng:
Trải qua những thăng trầm lịch sử tiền nhân ta đã đi “chân
đất mặc áo vải thô” để sơn hà thống nhất và tổ quốc thăng
hoa.
Rồi những năm trung học, tuổi thơ chúng tôi hòa mình vào
sinh động cuộc đời bằng tính lãng mạn qua tinh thần cách
mạng của một quê hương cách mạng ở tuổi học trò, nhìn qua
lăn kính từ những bài thơ Chế Lan Viên, Thu Bồn cho đến
Giang Nam, qua các câu:
…Xưa tôi yêu quê hương vì có hoa có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi
Nay tôi yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần da thị của em tôi
Phải thế, ở cái lãng mạn của tuổi thơ chúng ta có hai thứ
tình yêu: Một là tình yêu của tuổi trẻ như một sự nhập thế
tồn vong phải có của con người. Con người sẽ không có sư
quân bình nếu sống ngoài sự ràng buộc của lứa đôi, như
truyền thuyết Adam và Eva chép lại. Con người được tồn tại
là do sự sắp đặt của đấng tạo hóa. Vì thế tình yêu tuổi trẻ
là một bắt đầu cho sự tiếp nối của nhân loại. Do đó đối với
những bài thơ tình của Chế Lan Viên, Thu Bồn, Thái Can hay
Lưu Quang Vũ đã mang lại sắc màu tô điểm rất nhiều ở tuổi
học trò. Tuy nhiên, bên cạnh tình yêu tự nhiên ấy, chúng tôi
đã cút bắt một thứ tình yêu đất nước một cách thiết tha,
chân thành và mãnh liệt. Khi nhận diện rằng muốn bảo tồn
tình yêu trước hết phải bảo vệ đất nước chống lại ngoại xâm.
Tình yêu sẽ không hiện hữu hay hiện thực nếu quân ngoại xâm
vẫn còn hiện diện tiếp tục đốt nhà và giết người. Cho nên kẻ
thù xâm lược được đồng nghĩa với cuộc chiến ủy nhiệm và ý
thức hệ ở những ca từ đuổi bắt mà tuổi trẻ chúng tôi và con
người Việt Nam đã phải chấp nhận một cách gượng ép, trong
những khuôn khổ ý hệ được lộng kính hay đóng khung bởi những
trạng từ hoa mỹ tự do, kèm theo mẫu kẹo cao su, miếng pho
mát hoặc chiếc bánh ca-tô. Từ đó, chúng tôi đã hiểu Giang
Nam nhiều hơn, hát cùng Giang Nam, đứng trên cung bậc đó
bằng thứ tình yêu hoa bướm ở tuổi thơ, hoặc những ngày trốn
học bị đòn roi. Để rồi tuổi thơ đã đánh mất khi làng xã bị
giặc về, nhà tan cửa nát. Cũng từ đây chúng tôi có cuộc hành
trình mới, hành trình mà Lưu Hữu Phước và Mai văn Bộ đã dẫn
dắt tuổi trẻ chúng tôi đi qua đoạn đường “nầy công dân ơi
đứng lên đáp lời sông núi”. Với những trăn trở về một đất
nước chiến tranh bởi bom đạn ngoại bang trong suốt hơn hai
mươi năm dài, huynh đê tương tàn, máu đổ đầy sông, “hận thù
đằng đằng”. Nhìn những vụn vỡ của quê hương, trẻ thơ hụt
hẩng bơ vơ, xã hội tha hóa. Người ta nhân danh dân tộc để
tiến hành con đường vong thân, phủ nhận tinh thần nhân vị,
chà đạp giá trị con người và sau cùng xử dụng những kẻ vong
bản để tiến hành cuộc chiến xâm lược qua những mỹ từ tự do.
Rồi cơ duyên lịch sử, đẩy đưa đất nước chúng ta trở thành
“một sớm mai về” lòng rộn niềm vui, khi chiến tranh không
còn nữa, những khuyết tật thân xác và đất-đá nước- trời hy
vọng ngày qua tháng lại, dần dà sẽ được hàn gắn..
Dĩ nhiên từ cuộc chiến “xâm lăng và ý hệ” chạy suốt chiều
dài trong mốc thời gian trên 20 năm, dấu vết bom đạn hay đối
nghịch quan điểm không thể hàn gắn một sớm một chiều. Thế
nhưng, nếu chúng ta lấy dân tộc làm mẫu số chung thì quan
điểm sẽ không có sự đối nghịch. Nhưng nói cho cùng, nếu đối
nghịch quan điểm cũng chỉ là khởi thủy của một nền nhân chủ
pháp trị và còn là điểm mộng mơ khởi đầu của một tổng số
dựng nước trồng người. Do đó, từ quan điểm a đến quan điểm b
nếu có những bất đồng chúng ta vẫn có thể đặt trên bàn (on
the table) một cách ngay thẳng để thảo luận. Ngày xưa tiền
nhân Nguyễn bá Học đã từng nói:” Đường đi không khó vì ngăn
sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Sông
cạn núi mòn là do sự quyết tâm ở lòng người, lòng người là ý
dân, ý dân được đồng nghĩa như ý trời. Do đó, chỉ có trời
mới có thể làm mưa làm nắng và cho ta oxygen để thở. Trời,
đất bao la, biển rộng sông dài. Tổ quốc có nhân dân, ranh
giới có lãnh thổ, lãnh thổ có tài nguyên nuôi sống dân tộc.
Cho nên lãnh thổ của người Việt Nam còn được đến ngày hôm
nay là do con người Việt Nam có nhiều Lê Lợi hơn vua Lê Thái
Tổ hoặc có nhiều Nguyễn Huệ hơn vua Quang Trung, và chúng ta
có những Đinh Bộ Lĩnh ở đất Hoa Lư đầy đủ khả năng đánh tan
Thập Nhị Sứ Quân để sơn hà thống nhất khởi nghiệp nhà Đinh.
Khởi nghiệp nhà Đinh vào thế kỷ thứ 10 là một ví dụ điển
hình trong yếu tố đoàn kết và thống nhất. Nếu Thập Nhị Sứ
Quân không bị dẹp tan thì nước Đại Cồ Việt không có tên Đại
Cồ và binh mã nhà Tống không bỏ chạy thì nhà Đinh làm sao
được thành lập vào năm 963, để nhân dân hưởng cảnh thái bình
an lạc? Để rồi nếu Đinh Liễn không vì ganh ghét giết em út
mình là Hạng Lang thì làm sao vào năm Kỷ Mão (979) Đỗ Thích
có thể giết được Đinh Tiên Hoàng, gây nên cảnh dầu sôi lửa
bỏng? Ngay cả Khổng Tử cách đây 2500 năm, đã viết ra trong
Kinh Xuân Thu rằng: “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (nếu ta
không muốn, người chắc không ưa, không bắt người làm mình
không muốn). Thế thì, tất cả những đối nghịch về đất nước
chúng ta phải sẵn sàng thảo luận trên tư duy hài hòa. Chống
đối qua hình thức quá khích chỉ làm khổ cho nhau và chắc
chắn sẽ không tìm ra lối thoát cho dân tộc. Dân tộc Việt Nam
hay tuổi trẻ Việt Nam không thể chấp nhận một Trịnh-Nguyễn
phân tranh hay lằn ranh Bến Hải. Tự căn bản dòng sông Bến
Hải hiện hữu là để tăng thêm vẻ đẹp của quê hương, đáp ứng
nhu cầu nhân loại theo nghĩa của một dòng sông chứ không
phải là giới tuyến ngăn cách Bắc-Nam. Cho nên những hiện
tượng cách ngăn thuộc về quá khứ không ai có thể thay đổi
được, chúng ta nên can đảm vượt qua, chấp nhận con đường duy
lý đại đoàn kết dân tộc, vo tròn bởi chủ đạo quốc dân, cải
tiến những quy trình không còn thích nghi trong đời sống vật
chất.
Ấy là mộng mơ rất người, rất trẻ, sống động và năng nổ ở kỷ
nguyên mới, đi tới,. mà chúng ta tin rằng ở mỗi trái tim của
80 triệu người Việt đều mong muốn, cho dù đất với trời còn
mãi những cách ngăn. Và nữa, ấy còn là một khẳng định rõ
ràng, đậm nét rằng không ai có quyền tàn phá đất nước chúng
ta qua danh nghĩa nhân quyền hay tôn giáo, hoặc không ai hay
kẻ nào tự quàng lên mình thông điệp tự do để cứu vớt dân tộc
Việt Nam bằng bom đạn ngoại bang. Tất cả những “danh nghĩa”
phi danh nghĩa, thiếu tinh thần dân tộc chỉ có thể thành
công khi người Việt Nam không một ai còn dùng đũa ăn cơm hay
gắp mắm.
Nguyễn Hữu Hoạt

________________________________________________________________________
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|