| |
Trước
đây khi Hoa kỳ chuẩn bị xua quân tiến chiếm Iraq tiêu diệt
nhà độc tài Saddam Hussein, ký giả Dan Rather đã đến tận Thủ
đô Iraq để phỏng vấn Tổng thống Saddam Hussien tìm hiểu sự
thật. Hoặc trong những năm Cuba thù nghịch với Hoa Kỳ, Dan
Rather cũng đã đến tận thủ đô Havana để phỏng vấn lãnh tụ
Fidel Castro. Cùng với tinh thần truyền thông ấy, tôi quan
niệm một tờ báo sốt dẻo, đứng đắn, uy tín cần phải trung
thực. Trung thực với chính mình và trung thực với đọc giả.
Đây là động cơ có tính thuyết phục để tôi mong muốn chuyển
tải những thông tin mà mình nghĩ rằng độc giả nóng lòng chờ
đợi. Dĩ nhiên, ngoài thiên chức làm báo tôi còn là một người
Việt Nam chính gốc. Cho nên những quan tâm của tôi đối với
đất nước đồng hành cùng những suy nghĩ của đọc giả. Từ những
thôi thúc và động lực ấy, tôi trực tiếp liên lạc cùng Vụ Báo
Chí thuộc Bộ Ngọai Cộng Sản Việt Nam với vai trò của một nhà
báo Hải Ngọai cũng giống như những tờ báo khác trên thế giới
muốn được phỏng vấn về tự do tôn giáo, báo chí và phản ứng
của nhà nước Cộng Sản Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa. Sau
thời gian chờ đợi, tôi đã được Bộ Ngoại Giao và Ban Tôn Gíao
chính phủ đồng ý được phỏng vấn Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn,
người phụ trách về Ủy Ban Người Việt ở nước ngoài và ông
Nguyễn Thế Doanh, nguyên Trưởng Ban Tôn Giáo Trung Ương.
Tôi mong
muốn rằng cuộc phỏng vấn nầy sẽ giúp cho đọc giả hải ngoại
hiểu thêm về đường lối và chính sách của đảng cộng sản Việt
Nam hiện nay.
Tiến sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt; Chủ nhiệm/Chủ bút
Tổng
biên tập báo Dân Quyền, tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt (NHH):
Thưa Thứ trưởng, ông đánh giá thế nào về những đóng góp của
kiều bào đối với đất nước thời gian vừa qua?
Thứ
trưởng Nguyễn Thanh Sơn (TT. NTS): Trước hết, tôi đánh giá cao cuộc gặp gỡ
giữa tôi với ông chủ bút báo Dân Quyền ngày hôm nay. Tôi
mong muốn báo Dân Quyền cùng các cơ quan ngôn luận khác có
tính chất khách quan gửi những thông tin thực tế, chính xác,
chân thật về tình hình Việt Nam tới bà con ở hải ngoại nói
chung và Hoa Kỳ nói riêng.
Theo
thống kê của chúng tôi, hiện cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài khoảng 4 triệu người, trong đó, tại Mỹ xấp xỉ 1,7
triệu (theo phía Mỹ, con số này là 2,2 triệu.) Chúng tôi
luôn khẳng định trong tất cả các bài diễn văn của lãnh đạo
cấp cao Việt Nam cũng như trong các cuộc gặp gỡ mà chúng tôi
đã tổ chức ở Hà Nội, Hoa Kỳ hay bất kỳ nơi nào khác rằng 4
triệu bà con kiều bào là “một bộ phận không thể tách rời”
của dân tộc Việt Nam. Điều này cũng được khẳng định rất rõ
trong Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị Việt Nam.
Kể từ
ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đang từng ngày hồi sinh
trỗi dậy và đi lên; được cộng đồng thế giới thừa nhận, thể
hiện qua việc chúng ta trở thành một quốc gia có vị thế được
trân trọng trên trường quốc tế, chúng ta đã thực hiện thành
công 2 năm làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an
Liên Hợp Quốc, kinh tế phát triển, đất nước đổi mới.
Thành
công trên gắn liền với sự đoàn kết, ủng hộ của kiều bào. Cho
nên, chúng tôi đánh giá cao việc bà con ở hải ngoại luôn
hướng về quê hương đất nước. Với tình cảm và sự hiểu biết về
cội nguồn gốc rễ, bà con đã có những đóng góp thiết thực với
quê hương đất nước thông qua những dự án đầu tư, làm ăn kinh
tế, và sự giúp đỡ trong những lần thiên tai, dịch bệnh.
Những hoạt động chúng tôi tổ chức trong năm qua để hướng bà
con về cội nguồn, để cho bà con thấy rằng, dù đi đâu, dù ở
đâu, dù bà con còn suy nghĩ thế nào thì đất nước Việt Nam
vẫn là cội nguồn dân tộc. Chúng tôi đánh giá cao tinh thần
yêu nước cũng như tình cảm của bà con đối với quê hương đất
nước. Chúng tôi đánh giá rất cao những đóng góp của kiều bào
với quốc gia sở tại nơi bà con sinh sống. Chúng tôi cũng
đánh giá cao trí tuệ Việt Nam trong cộng đồng kiều bào ở
nước ngoài. Chúng ta đã có những chính trị gia, những doanh
nhân, những sinh viên thành đạt. Thế giới đã thừa nhận Việt
Nam là một dân tộc thông minh, không thua kém bất kỳ một dân
tộc nào thì không có lý do gì mà nhân dân trong nước, chính
phủ trong nước không tự hào về sự thành đạt, phát triển và
nổi tiếng của bà con Việt Nam ở hải ngoại. Ngược lại, không
có lý do gì mà bà con chúng ta ở khắp năm châu bốn biển
không tự hào, không phấn khởi bởi những đổi thay của đất
nước đang đi lên.

NHH:
Dư luận trong nước và quốc tế đang đề cập nhiều đến vấn đề
kiểm duyệt báo chí và internet của Việt Nam (thể hiện qua vụ
bắt giữ một số nhà báo, blogger, không truy cập vào trang
facebook....). Gần đây, có tin Việt Nam còn chặn cả trang
web của BBC. Ông giải thích thế nào về việc này?
TT.
NTS:
Trước hết, tôi xin cung cấp với ông Chủ bút một vài số liệu
liên quan đến vấn đề ông quan tâm. Hiện nay, Việt Nam có
khoảng 687 cơ quan báo chí với gần 900 ấn phẩm; 16, 000 nhà
báo được cấp thẻ hành nghề và hàng ngàn nhà báo nghiệp dư;
29 cơ quan báo chí nước ngoài có trụ sở thường trú tại Việt
Nam; khoảng 60 kênh truyền hình nước ngoài phát sóng ở Việt
Nam liên tục 24/24 giờ. Tính đến năm 2009, số người đăng ký
sử dụng internet ở Việt Nam gần 22 triệu người, chiếm dân số;
1,1 triệu người trở thành các blogger trên internet; 94%
trường phổ thông và 100% trường đại học đã được nối mạng
internet. Theo đánh giá của Liên minh Viễn thông Quốc tế thì
Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển
internet nhanh nhất thế giới. Đây là con số mà nhiều quốc
gia phát triển chưa có được.
Tôi muốn
nhấn mạnh rằng, chưa bao giờ thông tin báo chí ở Việt Nam
cởi mở như hiện nay, thậm chí, chúng tôi lo rằng báo chí
Việt Nam phát triển nhanh quá, mạnh quá. Tôi cho rằng không
có chuyện Việt Nam chặn trang web của BBC. Bà con có thể
được xem BBC truyền hình thì không có lý do gì chúng tôi lại
chặn BBC internet vì thực tế thông tin truyền hình còn nhanh
và trực diện hơn nhiều. Các kênh quốc tế khác như CNN, CNBC,
kể cả các kênh tuyên truyền văn hóa rất mạnh là MTV, MTV
plus, MTV Asia... cũng phát sóng 24/24 giờ ở Việt Nam. Cần
nói thêm rằng, một số chương trình âm nhạc của MTV có những
hình ảnh không phù hợp với thuần phong mỹ tục, văn hóa Việt
Nam, đôi lúc lồng cả những hình ảnh thời sự, chính trị không
phù hợp với mong muốn của chúng tôi nhưng chúng tôi không
cắt. Chúng tôi vẫn phát để công chúng đón nhận và tự đánh
giá tùy theo sở thích, lứa tuổi của mình. Thông qua thâm
nhập thực tế ông chủ bút có thể tự đánh giá được.
Chúng
tôi chỉ ngăn cản những thông tin có tính chất kích động, gây
hoang mang, dao động, làm ảnh hưởng đến đời sống chính trị,
ổn định xã hội của Việt Nam hoặc đi ngược lại với đường lối
của chính phủ Việt Nam. Chúng tôi dứt khoát không cho tuyên
truyền những thông tin đó, vì đó là những thông tin xuyên
tạc và không đúng sự thật Việt Nam. Điều này cũng phù hợp
với các thông lệ và các công ước quốc tế cũng như luật pháp
Việt Nam.
Tôi nghĩ
rằng, đã đến lúc xã hội Việt Nam không cần tô son điểm phấn
để chứng minh thành quả của mình bởi nó là điều hiển nhiên,
là thực tế của một đất nước đang vươn lên và thế giới đang
thừa nhận.
NHH:
Một vấn đề khác mà cộng đồng hải ngoại rất quan tâm là vụ
xét xử một số cá nhân, trong đó có luật sư Lê Công Định. Có
ý kiến cho rằng, phiên tòa xét xử không theo đúng trình tự
thủ tục và đòi Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức đối với
những bị cáo này. Xin Thứ trưởng giải thích thêm về vụ việc
và cho biết hướng xử lý sắp tới của Việt Nam?
TT.
NTS:
Tôi chia sẻ với những suy nghĩ và sự quan tâm của bà con.
Việt Nam luôn tôn trọng và lắng nghe những ý kiến bất đồng
của những người còn có những chính kiến khác đối với thể chế,
chế độ nhà nước chúng tôi. Họ có quyền bày tỏ một cách hòa
bình, hợp pháp và đúng nơi, đúng chỗ. Đối với các trường hợp
Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân hay một số cá nhân chúng tôi
bắt giữ thời gian qua, họ không những vi phạm luật pháp mà
còn có kế hoạch bạo động, lật đổ nhà nước Việt Nam. Đây là
hai vấn đề khác nhau. Họ không chỉ nêu những ý kiến, quan
điểm bất đồng, mà còn có chương trình hành động, phân vai
thành lập đảng, cử chức vụ người làm tổng thư ký, người làm
tổng tư lệnh, người làm bộ trưởng, người làm thứ trưởng. Họ
có tiến trình để lật đổ nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Đây là tội bạo động, lật đổ chế độ, lật đổ một nhà nước có
chủ quyền, pháp quyền và là thành viên đầy đủ tư cách của
Liên Hợp Quốc. Không thể có chuyện tha thứ khi họ vi phạm
những điều hết sức nghiêm trọng như vậy!
Tôi
khẳng định rằng, tất cả quá trình xét xử đều làm theo đúng
luật pháp Việt Nam và phù hợp với các công ước, luật pháp
quốc tế mà Việt Nam tham gia về quyền tự do con người và
những vấn đề liên quan đến quá trình bắt giữ, điều tra. Từ
lúc chúng tôi có nghi vấn đến lúc tạm giữ, điều tra, xét xử
đều đảm bảo đúng quy trình tố tụng, tức là phải có đầy đủ
chứng cứ, phải có quá trình điều tra, có nhân chứng và luật
sư. Ngoài ra, phiên tòa xét xử được tổ chức công khai, với
sự tham dự của một số phóng viên báo chí nước ngoài. Đây là
thiện chí của chúng tôi. Tuy nhiên, sau khi tham dự phiên
tòa, họ đã có những bài viết không đúng thực chất đã diễn ra
tại phiên tòa. Đó là điều đáng tiếc! Việc làm này có ảnh
hưởng đến danh dự, trình độ nghề nghiệp của những phóng viên
đó hay không thì chúng tôi không rõ, nhưng mong rằng bằng
lương tâm nghề nghiệp, họ sẽ có những bài báo khác đúng hơn
về thực chất của vấn đề.
Tất cả
các công dân Việt Nam đứng trước pháp luật đều bình đẳng như
nhau. Chúng tôi xin nhắc lại rằng những người đã bị xét xử
trong năm qua đã thừa nhận hành vi của họ là vi phạm luật
pháp, tham gia kế hoạch lật đổ một nhà nước có chủ quyền,
một nhà nước là thành viên Liên Hợp Quốc. Điều này luật pháp
quốc tế cũng không cho phép.
NHH:
Thưa ông, là người có buổi tiếp và làm việc với dân biểu Mỹ
Joseph Cao (Cao Quang Ánh) tháng 01/2010, Thứ trưởng đánh
giá thế nào về chuyến thăm và về cá nhân ông Cao?
TT.
NTS:
Trước hết, cá nhân tôi thấy rằng trong cộng đồng người Việt
tại hải ngoại có những người thành đạt như ông Cao Quang Ánh
là điều đáng mừng, bởi vì ông Cao là người Mỹ gốc Việt đầu
tiên trúng cử vào một cơ quan, tổ chức chính trị lớn và uy
tín ở Mỹ. Điều đó chứng tỏ khả năng và trí tuệ của người
Việt Nam luôn luôn được thể hiện ở bất kỳ chỗ nào, dù ở Việt
Nam, ở Pháp, hay ở Ý… thì trí tuệ Việt Nam luôn được khẳng
định.
Tiếp xúc
với nghị sĩ Cao, tôi thấy ông ta là người dễ gần, thông minh
và cởi mở. Tôi không biết trước đây ở Hoa Kỳ, nghị sĩ Cao
phản ứng như thế nào đối với chính sách của nhà nước Việt
Nam, nhưng khi gặp tôi, ông Cao hoàn toàn không đả động gì
đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, mà chỉ nói rằng ông vẫn “còn
một số ý kiến bất đồng, chưa đồng nhất với chính phủ Việt
Nam nhưng những ý kiến này có thể trao đổi và thỏa thuận với
nhau được.” Cái quan trọng mà tôi đồng tình với ông Cao là
ông mong muốn nhìn thấy đất nước Việt Nam rộng mở và giàu
mạnh. Điều này cũng phù hợp với ý tưởng chung của chúng tôi.
Khi gặp
tôi cùng ngài Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael Michalak và Hạ
nghị sĩ Honda, thì ông Cao có thái độ rất mềm mỏng và thiện
chí. Tuy nhiên, sau khi trở về Mỹ, nghị sĩ Cao đã có những
phát biểu khác với hôm gặp tôi ở Hà Nội. Ông nói rằng ông có
nêu vấn đề dân chủ, nhân quyền với Bộ Ngoại giao Việt Nam
trong khi gặp tôi thì ông hoàn toàn không đề cập gì. Cái này
có cả ngài Đại sứ Mỹ và ông Honda chứng kiến. Nhưng tôi hiểu
và thông cảm với hoàn cảnh thực tế của nghị sĩ Cao, vì ở Mỹ,
ông phải đối mặt với một số cá nhân cực đoan còn đang cố
chấp, cố tình có những suy nghĩ không phù hợp với lợi ích
dân tộc, hay nói thẳng rằng họ còn có những hận thù với dân
tộc. Chúng ta đang cố gắng xây dựng đất nước Việt Nam giàu
mạnh thì không có lý gì người Việt Nam lại đi bôi nhọ hình
ảnh đất nước, dân tộc mình. Tôi cho rằng, trong thâm tâm ông
Cao cũng phải thừa nhận rằng nước Việt Nam đang vươn lên,
đang trỗi dậy mạnh mẽ, đem lại lợi ích rất thiết thực cho
nhân dân và uy tín cho chính dân tộc mình, được nhân dân thế
giới ngưỡng mộ, nhưng trước bà con cộng đồng còn có những
thái độ cực đoan như thế thì ông Ánh buộc phải nói như vậy.
Tình cảm
mà nhân dân trong nước dành cho bà con kiều bào mà ông Cao
là đại diện là tình cảm chân thành nhất, không khách sáo,
không giả tạo. Một số bà con chưa hiểu về tình hình đất nước
sẽ nghĩ rằng khi về nước ông Cao sẽ bị đối xử rất lạnh nhạt
và có thể có những kỳ thị, những khoảng cách. Nhưng thực tế
hoàn toàn khác. Cuối cùng, tôi hi vọng dù có phát biểu gì
thì với lương tâm, trách nhiệm đối với đất nước, ông cũng
thấy được thực chất của cội nguồn nơi đã sinh ra mình và có
những suy nghĩ thiết thực để đóng góp vào việc đoàn kết dân
tộc.
NHH:
Sau này, ông có dự định làm việc với ông Cao nữa không, thưa
Thứ trưởng?
TT.
NTS:
Tôi luôn sẵn sàng hợp tác với ông Cao nhằm thúc đẩy đại đoàn
kết dân tộc và hợp tác Mỹ - Việt. Tại cuộc gặp hồi tháng
01/2010, tôi đã đề nghị nghị sĩ Cao giúp tôi với tư cách là
Thứ trưởng Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người
Việt Nam ở nước ngoài- người chịu trách nhiệm cao nhất về
các chế độ chính sách đối với kiều bào- đối thoại với tất cả
những bà con, anh, chị, em… đang còn những suy nghĩ khác,
còn những gay gắt khác trong quan niệm, nhận xét về tình
hình đất nước.
Ông
Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch của chúng tôi, đã nói ở Mỹ năm
2007 rằng “dù thế nào đi nữa, dù người ta có tội lỗi nhưng
bây giờ họ trở lại Việt Nam, mong muốn với trái tim, tấm
lòng yêu nước trở về, thì mẹ Việt Nam vẫn giang rộng cánh
tay đón họ.” Đây chính là câu nói, ý nguyện của nhân dân,
thể hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Những người nơi khác đến làm cho anh em chúng ta đánh nhau,
để rồi họ phủi tay ra đi với hậu quả của chất độc da cam còn
hằn mãi trên mảnh đất Việt Nam. Nhưng chúng ta vẫn tha thứ.
Truyền thống nữa của dân tộc Việt Nam lấy nhân nghĩa thắng
hung tàn. Đó là lý do chúng tôi muốn gặp bà con càng sớm
càng tốt, bởi vì chúng tôi biết số này không còn nhiều nữa.
Chúng tôi muốn gặp để cho họ thấy được đổi thay của đất nước,
và lương tâm họ không bị cắn rứt khi họ trở thành những
người quá già, những người không còn đủ sức để về quê hương
nữa. Chúng tôi muốn gặp họ sớm, để họ thức tỉnh sớm, để họ
hợp tác với ta như ông Ánh đã nói với chúng tôi ở Hà Nội là
mong muốn đối thoại, hợp tác với nhau để xây dựng đất nước
Việt Nam giàu mạnh. Chừng nào chưa gặp được bà con thì chúng
tôi chưa yên tâm.
Với tư
cách là một nhà nước có chủ quyền, chúng tôi muốn bà con
phải được nghe những tiếng nói chân chính, những tiếng nói
thật từ các quan chức, lãnh đạo.
NHH:
Thưa Thứ trưởng, là một nhà báo hải ngoại nói riêng và là
người Việt Nam nói chung, tôi luôn luôn quan tâm đến vấn đề
lãnh thổ mà cha ông chúng ta đã hy sinh máu xương để bảo tồn.
Xin Thứ trưởng cho biết chủ trương và quan điểm của Việt Nam
trong giải quyết tranh chấp trên biển với các nước láng
giềng, đặc biệt Trung Quốc thời gian tới?
TT.
NTS:
Quan điểm, điều kiện tiên quyết của nhà nước CHXHCN Việt Nam
là quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền của Việt
Nam trên đất liền và hải đảo. Đến nay, những vấn đề tồn tại
về biên giới, lãnh thổ trên bộ và đất liền từ nhiều năm qua
với Trung Quốc cơ bản đã được giải quyết sau khi Việt Nam và
Trung Quốc ký kết hiệp định phân giới trên bộ và đất liền.
Đối với Hoàng Sa và Trường Sa, chủ trương của Việt Nam là
duy trì ổn định, hòa bình, đảm bảo an ninh trong khu vực và
đất nước. Chúng tôi chủ trương đàm phán, chủ trương gìn giữ
hòa bình chứ chúng ta không chủ trương đấu tranh bạo động.
Đối với
biển Đông hiện có 3 tranh chấp chính. Thứ nhất là tranh chấp
chủ quyền giữa Việt Nam với 5 quốc gia và vùng lãnh thổ trên
quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, trong đó, ta tranh chấp
Hoàng Sa với Trung Quốc; Trường Sa với Trung Quốc, trong đó
có cả Đài Loan của Trung Quốc, Malaysia, Indonesia và
Brunei. Thứ hai là tranh chấp ở vùng phân định thềm lục địa
và vùng chồng lấn kinh tế, chủ yếu là tranh chấp với
Indonesia và Malaysia. Thứ ba là tranh chấp trong các hoạt
động ở ngoài biển liên quan đến xác định các vùng thông tin
tọa độ, các vùng khoa học, thăm dò, dầu khí, thăm dò thềm
lục địa, các nghiên cứu về hải dương học, kể cả nghề đánh cá.
Chủ trương của Việt Nam là đàm phán với tất cả các quốc gia
để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình. Bằng những chứng cứ
khoa học và lịch sử, bằng những chứng cứ thực tế, chúng ta
có thể tuyên bố chủ quyền của ta với quần đảo Trường Sa và
Hoàng Sa.
Đối với
những vụ việc xảy ra trong quá trình tranh chấp, một mặt
chính phủ Việt Nam lên tiếng phản đối, một mặt chúng ta
chứng minh chủ quyền của chúng ta. Chúng ta kiên trì để đàm
phán bằng biện pháp hòa bình, Việt Nam không chủ trương đối
đầu và dùng bạo lực đối với bất kỳ quốc gia nào. Đối với
Trung Quốc, chúng tôi muốn để nhân dân Trung Quốc cũng thấy
được vấn đề và chúng ta cùng nhau bàn bạc, đàm phán, trao
đổi trên cơ sở những chứng cứ lịch sử, chứng cứ khoa học để
rồi chúng ta thuyết phục bạn thấy được chân lý.
NHH:
Xin Thứ trưởng cho biết định hướng của Việt Nam đối với công
tác kiều bào trong năm 2010?
TT.
NTS:
Đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong suốt những năm
qua, Đảng và nhà nước Việt Nam đã có những quan tâm to lớn.
Nhiều chính sách của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở những
yêu cầu cụ thể của bà con, chẳng hạn, bà con mong muốn được
về thăm quê hương, đất nước một cách thuận lợi thì đã có
Quyết định 135 của Chính phủ miễn visa cho bà con; từ Nghị
quyết 36 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn tới
một loạt các nghị quyết mang tính chất chiến lược, lâu dài
đối với bà con đó là Luật quốc tịch mà Quốc hội Việt Nam vừa
thông qua và có hiệu lực từ tháng 9/2010, theo đó bà con có
thể giữ 2 quốc tịch. Rồi luật về nhà ở, chúng tôi đã sửa đổi,
bổ sung điều 126 Luật nhà ở và điều 121 Luật đất đai để bà
con kiều bào làm ăn lâu dài hoặc về chơi trong nước có thể
được mua và sở hữu nhà. Đây là một chế độ rất mới đối với bà
con.
Hiện
chúng tôi đang xây dựng chế độ chính sách để thu hút trí
thức kiều bào về xây dựng đất nước. Chúng tôi đang làm việc
trình lên lãnh đạo Đảng và Nhà nước dự án này. Tuy nhiên,
việc này không thể làm ngay trong 1-2 năm mà sẽ vừa làm vừa
rút kinh nghiệm. Một mặt, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để
tạo điều kiện thuận lợi cho bà con, mặt khác, mong bà con
hiểu và cảm thông với tình hình khó khăn của đất nước nên
không thể đòi hỏi như ở bên ngoài được.
Năm
2010, Việt Nam sẽ tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
Hà Nội. Tôi muốn bà con sẽ có những hành động thiết thực
hướng về đại lễ, bởi đây là niềm tự hào dân tộc, không phải
thành phố nào trên thế giới cũng có được. Bà con có thể đóng
góp cho đất nước bằng cách truyền bá, dạy dỗ các con cháu
hồn dân tộc, đó là tiếng Việt, đó là văn hóa dân tộc! Ngoài
đề án về chính sách chế độ thu hút chuyên gia, chúng tôi
đang triển khai đề án dạy tiếng Việt trong cộng đồng Việt
Nam ở nước ngoài. Lực lượng bà con ta ở hải ngoại là những
hạt nhân tích cực để tuyên truyền, bảo tồn văn hóa dân tộc ở
nước ngoài.
NHH:
Tôi nghĩ những ý kiến ông thứ trưởng đưa ra rất cần thiết để
đọc giả hải ngọai hiểu thêm vấn đề. Xin cảm ơn Thứ trưởng đã
dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn nầy. Chúc ông sức khỏe và
thành đạt trong mọi công tác ở tương lai.
TT.
NTS:
Cảm ơn tiến sĩ. Tôi cũng chúc tiến sĩ cùng gia đình sức khỏe
và thành đạt trong năm mới.
________________________________________________________________________
|
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|