|
Tham luận của TS Nguyễn Nhã tại buổi Tọa đàm
khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam
(Việt
Nam luôn có bằng chứng lịch sử cụ thể, không mơ hồ mang tình
suy diễn như các nước khác)
Từ thời các chúa Nguyễn, đầu thế kỷ XVII, khai thác
Biển Đông, kinh tế biển, bảo vệ Biển Đông đã được
các chính quyền thời ấy rất quan tâm.
Các đội khai thác Biển Đông như đội Hoàng Sa, đội Quế
Hương, đội Đại Mạo Hải Ba, đội Quế Hương Hàm với
nhiệm vụ kinh tế và sẵn sàng ứng chiến với kẻ xâm
phạm Biển đảo.
Các người phục vụ các đội đều gọi là quân nhân –
Đội dân binh.
Riêng đội Hoàng Sa đứng đầu là cai đội hay đội
trưởng lại thường là kiêm cai thủ cửa biển Sa Kì
cũng như kiêm quản cai cơ thủ ngự.
Chức quan cai cơ thủ ngự phụ trách thu thuế, an ninh
trên biển, chống hải tặc, cướp biển.
Như thế việc khai thác kinh tế biển luôn kết hợp với
nghi3a vụ quân sự, chống cướp biển, bảo vệ Biển Đông.
Sự kết hợp này do các chúa Nguyễn chủ trương từ lâu
khi ở đất liền xây dựng loại lính đồn điền, khẩn
hoang, tay cầm gươm, tay cầm cuốc đi mở cõi và cũng
từ lâu các chính quyền Đại Việt có chính sách “ngụ
binh ư nông”.
I. VUA GIA LONG TIẾP TỤC CHO DÂN BINH KHAI THÁC BIỂN ĐÔNG
Tháng 7 năm Quý hợi ( 1803), vua Gia Long đã cho lập
lại đội Hoàng Sa.
Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, q. 12 viết:
“ Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ,
sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”.
Các quan thủ ngự các cửa biển như cửa biển Sa Kỳ kết hợp với
đội Hoàng Sa vẫn giữ nhiệm vụ chống hải tặc như tru c.
II. NĂM 1816, GIA LONG LẦN ĐẦU TIÊN CHO THỦY QUÂN
CÙNG VỚI ĐỘI HOÀNG SA CÙNG ĐI XEM XÉT VÀ ĐO ĐẠC
THỦY TRÌNH Ở HOÀNG SA – (ĐNTLCB, ĐỆ NHẤT KỶ, Q.52)
Trước
khi lên ngôi hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh cũng đã được anh em
Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông trong đó có vùng
quần đảo Trường Sa hay Hòang Sa nói chung.
Tháng giêng, năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Anh, thuộc đội
Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình.
Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang)
tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưa là phường hay hộ An Vĩnh tại
huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré).
Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển 52, từ
năm 1816 vua Gia Long đã bắt đầu cho thủy binh đi công tác
Hoàng Sa cùng vBi đội dân binh Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi ra
Hoàng Sa xem xét và đo đạc thủy trình.
Dân phu cùng đi chính là những dân phu giỏi hải trình đi
Hoàng Sa. Sở dĩ vua Gia Long bắt đầu cho thuỷ binh đi Hoàng
Sa vì có các sĩ quan người Phương Tây trong thời chiến tranh
với Tây Sơn rất quan tâm đến vấn đề quản lý Biển Đông.
Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như
Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động
của vua Gia Long như Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le
mémoire sur la Cochichine" “Chỉ đến năm 1816, đương kim
hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy” hay giám mục Taberd viết:
“Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng
treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã
cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiB Ft lập
một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt
Nam”.
Chính hoạt động lần đầu tiên của thủy quân này đã đánh dấu
mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi
chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đã khiến
cho những người Phương Tây như Chaigneau hay sau này là
Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ
quyền của mình như đã nói trên. Thực ra sự kiện năm 1816 chỉ
đánh mốc là Hoàng Đế Gia Long sử dụng thủy quân thay vì chỉ
có đội Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình , khai thác hải
vật như trước.
Sang thời Nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, thủy quân
hàng năm liên tục đã thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa
đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ
quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa…
III. CÁC HỌAT ĐỘNG CỦA THỦY QUÂN TRIỀU ĐÌNH VIỆT NAM THỰC
THI LIÊN TỤC VÀ HÒA BÌNH Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG SA
3.1 - Các hoạt động đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ về
Trường Sa
Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao
cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân và
người lái thuyền ở Quảng Ngăi hướng dẫn hải trình.
Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 : “Xem từ
năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái
thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô
nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2
tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân
hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”.
Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa nói chung, Trường
Sa nói riêng thì bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào
mùa Xuân, (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng
tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới
Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng
kể. Như năm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ
tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo
mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được . Lúc
đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng
3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi
trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.
Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa20nói chung, Trường Sa nói riêng
được qui định cũng rất rõ ràng có ghi trong Đại Nam Thực Lục
Chính Biên đệ nhị kỷ quyển 165 cũng như Khâm Định Đại Nam
Hội Điển Sự Lệ , quyển 221 như sau:
“Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy
chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu,
rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay
không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường
vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể,
trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy
đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy
trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng
nào? Ước lượng cách bờ=2 0bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh
bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau,
mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.
Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa nói chung, Truờng Sa
nói riêng dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long
14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân,
Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa nói
chung, Trường Sa nói riêng, chưa chu tất đã bị phạt mỗi
người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm
Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng
chưa biết rõ nên làm thế nào.
Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837),
thủy quân đi Ho=C 3ng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên
chưa được chu đáo lắm. Theo Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh
Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi
với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1
bức vẽ chung , song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm , Bộ Công phải
yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn.
3.2 - Các hoạt động cắm cột mốc, bia chủ quyền để xác lập
chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
từ đầu thế kỷ XIX.
Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể
của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ
Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy
quân, chính đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa
(châu cải) : “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho
tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên" và rồi vua Minh Mạng lại
phê (châu phê): “Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để
lưu dấu”.
Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) Đại Nam
Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 154 có ghi rõ: “Xem từ
năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái
thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm
thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh
Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn
ra xứ Hoàng Sa”. Như thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần
tháng giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng
3 dương lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm
lịch (tháng 4 dương lịch) là lúc bi3n yên nhất thì khởi hành
đi Hoàng Sa.
Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức thật qui
củ có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn
có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 đã ghi chép rằng trước năm
Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm
dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không
biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn
Lý Ba Bình”. Như thế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc
bia, dựng miếu chùa rồi.
Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị
cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra
dựng bia chủ quyền . Đại Nam Thực Lục Chính Biên ệ nhị kỷ,
quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17
(1836), Bộ công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa
ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc,
dựng bia.
Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836)
với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi
thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột
mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam Thực Lục Chinh
Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ : “Vua Minh Mạng đã y
theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu
Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu
mốc. Mội bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài
khắc những chữ:
“Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội
trưởng suất đội Phâm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương
đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”.
(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội
trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét
đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).
3.3 - Xây dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất
quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ
Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể
chế nhà đá. Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính
Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biFt rõ năm Minh Mạng thứ
15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến
mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835),
vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem
lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình
Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7
trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong. Mười
ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có nhiệm vụ
lâu dài hơn.
Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và đằng sau
đều trồng các loại cây. Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược
của Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những
hạt quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc
cây để tìm dấu mà nhận. Như thế cây20trồng ở Hoàng Sa chủ
yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ không trồng theo kiểu
trồng loại cây con. Đó cũng hợp lý vì mang cây con ra biển
đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo dưỡng được
cây sống để mà trồng. Thời gian hoạt động hàng năm của thủy
quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng
trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây. Ý của vua
Minh Mạng sai trồng cây cũng cho rằng gần đây thuyền buôn
thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu dễ nhận ra đảo
mà tránh thuyền bị tai nạn đâm vào đảo.
Song theo Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16(1835), Vua
Minh Mạng giao Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên
và thưởng dân binh V văn Hùng, Phạm văn Sanh. Như thế có
nghĩa có thể năm 1835 hay chính năm 1834 thủy binh đi Hoàng
Sa có dân binh và cai đội Hoàng Sa đi cùng. Và như thế từ
năm 1816 đến năm 1835 vẫn cịn sự kết hợp giữa thủy binh và
dân binh đội Hoàng Sa phối hợp hoạt động.
IV. SỰ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN HOÀNG SA – TRƯỜNG SA
CỦA VUA CHÚA, TRÌNH ĐÌNH VIỆT NAM VÀ QUẢN LÝ HÀNH
CHÁNH CỦA VIỆT NAM
4.1 - Sự khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của vua
chúa, triều đình Việt Nam
Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rõ vua,
triều đình Trung Quốc khẳng định chủ quyền của mình ở Hoàng
Sa và Trường Sa, thì tài liệu chính sử của Việt Nam cho thấy
vua và triều đình Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa
và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam.
Các tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam, của triều
đình Việt Nam như ĐE1i Nam Thực Lục Chinh Biên, Đại Nam Hội
Điển Sự Lệ, Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đã
ghi nhận rất rõ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đình Việt
Nam luôn khẳng định Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng
thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam.
Tỷ như năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm
Đạo Quang thứ 16 đời Nhà Thanh) Bộ Công tâu lên vua: “Xứ
Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta rất là hiểm yếu
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165). Ngày 20
tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) phúc tấu của Bộ Công
cũng đã khẳng định: “Hàng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái
binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà...”
(tập Châu Bản Thiệu Trị tập 51, trang 235).
Sách Đại Nam Nhất Th ng Chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn
cũng đã chép một cách rõ ràng: “Phía Đông (tỉnh Quảng Ngãi)
chạy ngang đến đảo cát :đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh …”
4.2 - Việc quản lý hành chánh của các chính quyền Việt
Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
là một, luôn được quản lý hành chánh bởi Thừa Tuyên Quảng
Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa hay Ngãi lúc là
phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong, tùy
theo thời kỳ lịch sử. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng trở lại trấn
thủ Thuận Quảng (năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc
Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa chúa
Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam của Đại
Việt, do vua Lê trị vì.
Như thế mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn
vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt. Như thế, trên thực tế tự
trị trên, Phủ Quảng Nghĩa có huyện Bình Sơn (trước đó là
huyện Bình Dương) quản lý xã An Vĩnh. Toản Tập Thiên Nam Tứ
Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ đã ghi "Bãi Cát Vàng
(Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ Biên Tạp Lục của Lê
Qúi Đôn chép "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng
Nam) huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh “Địa Dư Chí của Phan Huy Chú
chép "Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa". Sang thời Tây Sơn từ
1773, phủ Quảng Nghĩa được đặt tên thành phủ Hoà Nghĩa.
Sang thời Nhà Nguyễn, năm 1801, Hoà Nghĩa đã được gọi lại
với tên Quảng Nghĩa, (cùng nghĩa với Ngãi đọc chệch). Tại
phủ Quảng Nghĩa ngoài viên=2 0tuần phủ, khánh lý còn có một
viên chính hộ lý, một viên đề lãnh, một viên ký lục, một
viên cai phủ và một viên thư ký.
Sau Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm 1829, tiếp tục
quản lý xã An Vĩnh. Dần dần xã An Hải phía Bắc cửa biển Sa
Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xã An Vĩnh,
An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập 2 phường An Vĩnh và An Hải mà
Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều
Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách
khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân
binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Anh được cử làm đội
trưởng đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù
Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh thuộc huyện đảo Lý
Sơn. Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của
Nguyễn Thông và Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán
Triều Nguyễn đã xác nhận đảo Hoàng Sa nói chung, Trường Sa
nói riêng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và
rộng lớn, nên phủ rồi trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị
hành chánh luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có
định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa để có phương tiện
tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở
Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay
kinh đô của Triều Nguyễn sau này.
Hiện nay chưa có bằng chứng nào quyền quản hạt hành chánh
của Trường Sa được giao về cho Bình Thuận hoặc Gia Định -
Đồng Nai, mặc dù Bình Thuận có nhiệm vụ cung cấp nhân sự cho
Đội B=E 1c Hải, cũng giống như các nơi khác như Bình Định
vẫn cung ứng nhân sự cho Đội Hòang Sa. Vùng bờ biển Quảng
Ngãi nhô ra Biển Đông xa nhất lại có dân Cù Lao Ré rất giỏi
đi biển; cửa biển Sa kỳ ở Quảng Ngãi luôn được bố trí chức
quan lớn như chức “Khâm sai cai thủ” kiêm kiêm chức thủ ngự
và kiêm quản đội Hoàng Sa. Đó cũng cách quản lý Biển Đông
hiệu quả cuả thời bấy giờ của Chúa Nguyễn cũng như của Nhà
Nguyễn.
V. KẾT LUẬN
Như thế suốt hơn hai thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVII thời các
chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời Nhà Nguyễn, đội dân
binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải đã làm nhiệm vụ khai
thác biển, quản lý biển đảo Biển Đông.
Từ năm 1816 thuỷ quân được giao nhiệm vụ xác lập và thực thi
chủ quyền theo phương cách Phương Tây, đúng theo pháp lý
quốc tế thời đó.
Thời nào cũng vậy, Việt Nam luôn tuân thủ pháp lý quốc tế về
xác lập và thực thi chủ quyền về biển đảo và có đầy đủ chứng
cứ lịch sử từ chính sử chép cụ thể đến các văn bản nhà nước
như Châu bản của Triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản
chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, tờ bằng cấp như
mới phát hiện ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Điều này
không hề có ở các nước khác trước năm 1909 khi chính quyền
Quảng Đông (Trung Quốc) bắt đầu tranh chấp khi ấy Việt nam
bi mất chủ quyền, bị Pháp cai trị và khi đó Chính quyền
Quảng Đông cho Hoàng Sa là đất vô chủ. Mọi bằng chứng sau
này đưa ra đều vô căn cứ, hoặc suy diễn hoặc bày đặt không
có thực.
Quan điểm chủ yếu của những nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn
đề chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa là Việt Nam đã chiếm
hữu thật sự, hoà bình và liên tục. Chủ quyền của Việt Nam
tại hai quần đảo ấy là không có gì để tranh cãi.
Cảm ơn quý vị!
Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Tiến sĩ sử học
________________________________________________________________________
|
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|