| |
Tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc tại buổi Tọa đàm khoa
học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam
Mở đầu cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, cụ Đào Duy Anh
viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẩu đất nào
là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để
giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào
đến tru ng châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không
nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở
rộng hy vọng cho tương lai”. Thật ngắn gọn, thật súc tích,
vị học giả cao kiến đã đúc kết chặt chẽ và cực kỳ chính xác
hai chặng đường lớn mấy thiên niên kỷ của dân tộc; và chỉ
bằng mấy chữ cô đọng, chỉ ra không thể rõ hơn nữa đặc điểm
cơ bản của mỗi chặng, có ý nghĩa không chỉ để nhìn nhận quá
khứ, mà còn để suy nghĩ về hôm nay và ngày mai – những suy
nghĩ, lạ thay, dường như đang càng ngày càng trở nên nóng
bỏng, cấp thiết hơn.
Chặng thứ nhất, tổ tiên ta, từ những rừng núi chật
hẹp phía Bắc và Tây Bắc, quyết chí lao xuống chiếm lĩnh hai
vùng châu thổ lớn sông Hồng và sông Mã, mênh mông và vô cùng
hoang vu, toàn bùn lầy chưa kịp sánh đặc, “thảm đảm kinh
dinh để giành quyền sống với vạn vật” – mấy chữ mới thống
thiết làm sao – hơn một nghìn năm vật lộn dai dẳng giành
giật với sóng nước, với bùn lầy, với bão tố, với thuồng
luồng, cá sấu … để từng ngày, từng đêm, từng giờ, vắt khô
từng tấc đất, cắm xuống đấy một cây vẹt, một cây mắm, rồi
một cây đước, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng
khác, năm này qua năm khác, trăm năm này qua trăm năm khác,
khi đất đã được vắt khô, được rửa mặn và ứng đặc, cắm xuống
đấy một cây tạo bóng mát, rồi một cây ăn quả, một cây lúa,
một mảnh lúa, rồi một đồng lúa …, tạo nên chỗ đứng chân cho
từng con người, từng đ4i lứa, từng gia đình, rồi từng cộng
đồng, từng xóm mạc, từng làng, từng tổng, từng huyện,… cho
đến toàn dân tộc, toàn xã hội, lập nên nửa phần là gốc cội
của giang sơn ta ngày nay. Và hẳn còn phải nói thêm điều này
nữa, cuộc thảm đạm kinh dinh vật lộn với thiên nhiên ấy lại
còn phải cộng thêm cuộc vật lộn cũng dai dẳng, quyết liệt,
không hề kém can trường và thông minh, để sáng tạo, định
hình và gìn giữ một bản sắc Việt riêng giữa trăm Việt, là
một Việt độc đáo và đặc sắc, không bị hòa tan bởi một thế
lực hung hãn, khổng lồ, luôn muốn xóa bỏ và hòa tan tất cả…
Hơn một thiên niên kỷ thiết lập và trụ vững, tạo nên nền
tảng vững bền, để bước sang chặng thứ hai.
Chặng thứ hai, như cụ ào Duy Anh đã đúc kết cũng thật
ngắn gọn và chính các, “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng
cho tương lai”.
Trên gốc cội ấy rồi, đi về đâu? Chỉ còn một con đường duy
nhất: Về Nam.
Có lẽ cũng phải nói rõ điều này: trước hết, khi đã đứng chân
được trên châu thổ sông Hồng sông Mã rồi, kháng cự vô cùng
dũng cảm và thông minh suốt một nghìn năm để vẫn là một Việt
đặc sắc không gì đồng hóa được rồi, thì mối uy hiếp bị thôn
tính đến từ phương bắc vẫn thường xuyên và mãi mãi thường
trực. Không nối dài được giang sơn cho đến tận Cà Mau và Hà
Tiên thì không thể nào Bắc cự. Ở bước đường chiến lược này
của dân tộc có cả hai khía cạnh đều hết sức trọng yếu. Khía
cạnh thứ nhất: phải tạo được một hậu phương thật sâu thì mới
đủ sức và đủ thế linh hoạt để kháng cự với mưu đồ thôn tính
thường trực kia. Lịch sử suốt từ Đinh, Lê, Lý, Trần và cả
cuộc chiến tuyệt vời của Nguyễn Huệ đã chứng minh càng về
sau càng rõ điều đó. Chỉ xin nhắc lại một sự kiện nghe có
thể lạ: chỉ vừa chấm dứt được 1.000 năm Bắc thuộc bằng trận
đại thắng của Ngô Quyền, thì Lê Hoàn đã có trận đánh sâu về
phương Nam đến tận Indrapura tức Đồng Dương, Nam sông Thu
Bồn của Quảng Nam. Đủ biết cha ông ta đã tính toán sớm và
sâu về vai trò của phương Nam trong thế trận tất yếu phải
đứng vững lâu dài của dân tộc trước phương Bắc như thế nào.
Khía cạnh thứ hai vừa gắn chặt với khía cạnh thứ nhất, vừa
là một “bước tiến thủ” mới “mở rộng hy vọng cho tương lai”,
như cách nói sâu sắc của cụ Đào Duy Anh. Bởi có một triết lý
thấu suốt: chỉ có thể giữ bằng cách mở, giữ để mà mở, mở để
mà giữ. Phải mở rộng hy vọng cho tương lai thì mới có thể
tồn tại. Tồn tại bao giờ cũng có nghĩa là phát triển. Đi về
Nam là phát triển. Là mở.
Không chỉ mở đất đai. Càng quan trọng hơn nhiều là mở tầm
nhìn. Có thể nói, suốt một thiên niên kỷ trước, do cuộc thảm
đảm kinh dinh để giành giật sự sống với vạn vật còn quá vật
vã gian nan, mà người Việt chủ yếu mới cắm cúi nhìn xuống
đất, giành thêm được một một mẩu đất là thêm được một mẩu
sống còn. Bây giờ đã khác. Đã có 1000 năm lịch sử để chuẩn
bị, đã có thời gian và vô số thử thách để tạo được một bản
lĩnh, đã có trước mặt một không gian thoáng đãng để không
chỉ nhìn xa mãi về Nam, mà là nhìn ra bốn hướng. Nhìn ra
biển. Phát hiện ra biển, biển một bên và ta một bên, mà lâu
nay ta chưa có thể toàn tâm chú ý đến. Hay thay và cũng
tuyệt thay, đi về Nam, người Việt lại cũng đồng thời nhìn ra
biển, nhận ra biển, nhận ra không gian sống mới, không gian
sinh tồn và phát triển mới mênh mông của mình.
Hôm nay tôi được ban tổ chức tọa đàm giao cho đề tài có tên
là “nỗi niềm Biển Đông”. Tôi xin nói rằng chính bằng việc đi
về Nam, trên con đường đi ngày càng xa về Nam mà trong tâm
tình Việt đã có được nỗi niềm b iển, nổi niềm Biển Đông.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà từ đó, nghĩa là từ đầu thiên
niên kỷ thứ hai, với nỗi niềm biển ngày càng thấm sâu trong
máu Việt, cha ông ta, người dân Việt, và các Nhà nước Việt
liên tục, đã rất sớm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên các
hải đảo và thềm lục địa của chúng ta, như các vị phát biểu
trước tôi từ nhiều góc độ khác nhau đã khẳng định một cách
thật thuyết phục.
Đi về Nam, chúng ta có một may mắn lịch sử rất lớn: tiếp
nhận không gian Champa, chúng ta đã tiếp nhận được rất nhiều
của truyền thống và văn hóa Chàm, và cả trước đó nữa, truyền
thống và văn hóa Sa Huỳnh. Thậm chí cũng có thể nói, tiếp
nhận Champa – sau này cả vùng sông nước Cửu Long rộng giàu –
người Việt, quốc gia Việt, đã tự nhân đôi được mình lên,
không chỉ về lãnh thổ, mà cả về tính cách, về bản lĩnh, về
sức sống và sức phát triển. Champa là một quốc gia biển. Thế
giới của chúng ta đã được tạo hóa “thu xếp” một cách tuyệt
vời: Biển ngăn cách, nhưng biển cũng là nối liền và chủ yếu
là nối liền. Từ rất xa xưa, qua biển lớn, những đoàn thuyền
buôn Champa đã từng giong buồm đến những vùng rất xa xôi,
không chỉ ở Đông Nam Á, Nam Á, mà cả Trung Đông, Địa Trung
Hải, tới cả thế giới A Rập; và cũng đã tiếp nhận thuyền bè
đến từ khắp thế giới rộng mở ấy. Hẳn Champa đã tiếp nối và
phát triển một truyền thống xa hơn của cư dân văn hóa Sa
Huỳnh. Và người Việt đi vào Nam đã nối tiếp truyền thống này.
Nếu ở miền Bắc, người đi ra biển trước đây chỉ biết biết
dùng những chiếc mảng thô sơ ghép bằng nhiều cây tre, thì đi
vào Nam người Việt đã rất nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật đóng
và sử dụng ghe bầu lớn của người Chàm để đi biển xa (thậm
chí, như chúng ta biết, trong trận đánh Thăng Long năm 1789,
Nguyễn Huệ đã sử dụng tượng binh gồm voi Bình Định và Gia
Lai được chở ra bằng ghe bầu lớn). Nếu ở phía Bắc, ẩm thực
nước chấm chủ yếu dùng tương, thì đi vào Nam người Việt đã
học được văn hóa nước mắm của người Chàm, là cách chế biến
cá hay nhất, hiệu quả nhất …
Chính trên cơ sở tư duy mới rộng mở ấy, đặc biệt trong thời
các chúa Nguyễn, tầm nhìn ra biển đã đưa đến một chuyển
biến20vô cùng quan trọng, thậm chí có thể coi là một bước
ngoặt có tính quyết định trong lịch sử Việt Nam: biết nhìn
ra biển lớn, tức cũng là biết nhìn ra toàn thế giới – điều
mà ngày nay ta gọi là một “tư duy về toàn cầu hóa” – Thời
các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tức miền Nam đất nước, đã tạo
ra được một thay đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế, chuyển từ
kinh tế thuần nông truyền thống sang cơ cầu kinh tế lấy
thương nghiệp làm chính, trong đó ngoại thương giữ vai trò
trọng yếu. Nhà nghiên cứu lịch sử Cao Tự Thanh đã có nhận
định chính xác và sắc sảo: chính cơ cấu kinh tế mới này đã
tạo nên điều mà ông gọi là một “động lực lịch sử” kỳ lạ và
kỳ diệu, khiến nếu từ Đèo Ngang đến đèo Ải Vân ch a ông ta
đã phải đi mất 600 năm, thì từ đèo Ải Vân đến Hà Tiên ta chỉ
phải mất có 200 năm, mà lại chỉ đi bằng lưỡi phạng chứ không
phải lưỡi kiếm …
Vậy quả thật nỗi niềm biển là nỗi niềm lớn của dân tộc, của
mỗi người Việt, nó liên quan mật thiết đến số phận dân tộc,
sự tồn vong và phát triển của dân tộc.
Cũng không thể không nói rằng, khi thời các chúa Nguyễn suy
tàn, đến thời các vua Nguyễn, thì chính sự phai nhạt tư duy
mạnh mẽ về biển, chính sách đóng cửa, là một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến mất nước.
Bài học: không có tư duy biển, không có tư duy rõ
ràng, mạnh mẽ về Biển Đông trực tiếp của ta, phai nhạt nổi
niềm ấy là nguy cơ dân tộc.
Như chúng ta biết, năm 1949 Ấn Độ thoát khỏi ách thuộc địa
của đế quốc Anh. Có độc lập rồi, chọn con đường phát triển
nào đây? Mâhâtma Gandhi, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Ấn, cũng
là bậc hiền triết lớn của nhân loại, lúc bấy giờ có đặt ra
một câu hỏi, hóa ra sẽ là câu hỏi lớn và lâu dài của thế
giới và của từng dân tộc. Ông nói: Nước Anh chỉ là một đảo
quốc nhỏ, dân số ít, vì sao đã trở thành một đế quốc giàu có,
lớn mạnh đến vậy? Ấy là vì nước Anh đã tiêu xài hết một nửa
tài nguyên của trái đất. Vậy bây giờ nếu Ấn Độ với quy mô và
dân số khổng lồ như thế này, cũng chọn con đường phát triển
như nước Anh, thì liệu phải có bao nhiêu trái đất mới đủ? …
Đúng 60 năm qua từ câu hỏi hiền minh mà cháy bỏng của thánh
Gandhi, ngày nay các khoa học đã có thể tính toán và trả lời
chính xác: Ấn Độ sẽ cần có 5 trái đất chỉ để riêng cho mình
nếu đi theo con đường phát triển mà nước Anh đã đi.
Chúng ta chỉ có một trái đất. Tiêu xài tài nguyên của tạo
hóa ban cho trên trái đất duy nhất này như thế nào đây là
vấn đề sống còn của nhân loại.
Chắc chắn mỗi chúng ta đều biết có một đất nước còn khổng lồ
hơn cả Ấn Độ đang lao vào cuộc chạy đua ghê gớm để tiến lên
đoạt vị trí hàng đầu thế giới. Và đang đi theo con đường của
Anh, ráo riết làm chủ tài nguyên khắp thế giới cho tham vọng
của mình, thậm chí, như chúng ta có thể thấy, đang và sẽ
tiêu xài tặng vật của tạo hóa một cách dữ dội, hoang dã hơn
nhiều so với các đế quốc trước. Tôi nghĩ cần nói rõ rằng quả
thật có một hiểm họa toàn cầu đang hình thành.
Nói về nỗi niềm biển, nổi niềm Biển Đông, tất không thể
không suy nghĩ về điều đó. Biển là tài nguyên, biển cũng là
giao thông huyết mạch để vận chuyển tài nguyên. Biển Đông,
trong đó có phần chủ quyền thiêng liêng của chúng ta, được
truyền lại từ bao nghìn năm “thảm đạm kinh dinh” và “gian
nan tiến thủ” của cha ông, đang đứng trước thách thức về cả
mặt tài nguyên lẫn đường giao thương tài nguyên ấy. Nỗi niềm
Biển Đông của chúng ta, mỗi chúng ta, trước hết là nhận thức
cho rõ ràng, thống thiết, quyết liệt về thách thức đó. Và từ
đó, hành động.
Kinh nghiệm lịch sử xa và gần cho thấy trong cuộc đấu tranh
này cũng vẫn phải là huy động và phát huy cho được hai lực
lượng đồng bộ: sức mạnh của nhân dân – như hàng ngàn ngư dân
Quảng Ngãi vẫn đang kiên cường ra khơi bất chấp hành động
cướp biển của ai kia, và hàng vạn ngư dân Nam Bắc cứ hiên
ngang ra khơi. Không ai đánh bại được hàng vạn người ra khơi
hòa bình trên biển ngàn đời của mình. Cả nước phải cùng đứng
sau lưng những ngư dân anh hùng ấy. Họ đang ở tuyến đầu hôm
nay.
Mặt khác nhất quyết đa phương về Biển Đông. Chúng ta đã
thắng trong chiến tranh vừa qua vì biết đa phương, biết huy
động sức mạnh của nhân dân toàn thế giới bằng chính nghĩa
của chúng ta. Cuộc đấu tranh mới này cũng vậy. Không thể
thắng một mình.
Nỗi niềm Biển Đông là tâm huyết, và cả sự thông minh nữa,
đều vì sự sống còn và phát triển của dân tộc
________________________________________________________________________
|
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|